Đảng viên độc thân mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ có thể bị khai trừ khỏi đảng theo Quy định 212, cụ thể ra sao?
Theo Thư viện Pháp luật, căn cứ vào Điều 53 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 đảng viên chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ là hành vi vi phạm quy định về hôn nhân và gia đình.
Trường hợp hành vi vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng thì bị khiển trách. Nếu tái phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị cảnh cáo hoặc cách chức nếu có chức vụ.
Đặc biệt, nếu vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng, trong đó có trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, gây dư luận xấu trong xã hội, thì bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng.
Như vậy, đảng viên độc thân chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ có thể bị khai trừ, nhưng không phải mọi trường hợp đều mặc nhiên bị khai trừ mà còn căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm.

Trường hợp nào đảng viên được giảm nhẹ mức kỷ luật?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026, đảng viên có một hoặc một số tình tiết sau thì được xem xét, giảm nhẹ mức kỷ luật:
- Chủ động báo cáo vi phạm của mình với tổ chức đảng, tự giác nhận trách nhiệm cá nhân về khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm trước và trong quá trình kiểm tra, giám sát.
- Chủ động cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm.
- Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm; tự giác nộp tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra.
- Vi phạm khi thực hiện chủ trương đổi mới, sáng tạo được cấp có thẩm quyền cho phép theo quy định, không thuộc trường hợp quy định tại Điểm đ Khoản 14 Điều 2 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026.
- Bản thân là thương binh, người có công hoặc con đẻ của liệt sĩ, thương binh, người có công.

Trường hợp nào phải tăng nặng mức kỷ luật cho đảng viên?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 thì tăng nặng mức kỷ luật cho đảng viên trong các trường hợp sau:
- Đã được tổ chức đảng yêu cầu kiểm điểm nhưng không thực hiện, không sửa chữa khuyết điểm, vi phạm. Không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm, hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; gây thiệt hại về vật chất phải bồi hoàn nhưng không bồi hoàn, không khắc phục hậu quả hoặc khắc phục không đúng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, không tự giác nộp lại tiền, tài sản do vi phạm mà có.
- Đối phó, quanh co, cản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; bao che cho người vi phạm; đe doạ, trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo, người làm chứng, người cung cấp tài liệu, chứng cứ vi phạm.
- Vi phạm có tổ chức, là người chủ mưu; cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm, che giấu, sửa chữa, tiêu huỷ chứng cứ, tạo lập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả; xoá dữ liệu, lợi dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số để hợp thức hoá, che giấu hồ sơ, tài liệu liên quan đến vi phạm.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, thực hiện chính sách an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh, lợi dụng cơ chế, chính sách thí điểm, đặc thù, chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung để trục lợi. Ép buộc, vận động, tổ chức, tiếp tay cho người khác cùng vi phạm.
- Biết mà không ngăn chặn để cán bộ, đảng viên thuộc tổ chức mình trực tiếp quản lý xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây hậu quả nghiêm trọng.