Theo báo Tiền Phong, tối 17/3, Công an TPHCM cho biết, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) phối hợp các đơn vị nghiệp vụ đã điều tra, làm rõ vụ việc có dấu hiệu lừa đảo xảy ra tại Hộ kinh doanh BN Center (372 Lê Quang Định, phường Bình Lợi Trung, TPHCM).
Trước đó vào ngày 6/11/2025, Công an TPHCM (Phòng An ninh chính trị nội bộ chủ trì) phối hợp Sở Y tế kiểm tra cơ sở BN Center do bà Trần Thị Xuân (SN 1994) đứng tên đăng ký kinh doanh.
Kết quả điều tra xác định, BN Center thực chất do Lê Thị Thanh Giang (SN 2001) điều hành, nhờ bà Xuân đứng tên pháp lý. Cơ sở này quảng cáo trên mạng xã hội Facebook là nơi “khám chữa bệnh chuyên sâu về tóc và da đầu”, có bác sĩ chuyên môn nhằm thu hút khách hàng. Tuy nhiên, BN Center không được Sở Y tế TPHCM cấp phép hoạt động khám, chữa bệnh, cũng không được xác nhận nội dung quảng cáo y tế.
Đáng chú ý, các đối tượng không có chuyên môn y tế nhưng tự xưng “bác sĩ”, “kỹ thuật viên”, trực tiếp tư vấn, điều trị và thu tiền của khách hàng.
Theo Sức khỏe và Đời sống, đến nay đã có 50 khách hàng đến cơ sở điều trị và thanh toán cho cơ sở số tiền hơn 2 tỷ đồng, nhưng không hiệu quả như cam kết đã làm đơn tố cáo gửi Công an TPHCM đề nghị làm rõ.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TPHCM xác định Trần Thị Xuân và Lê Thị Thanh Giang có dấu hiệu của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại khoản 4, Điều 174 Bộ luật hình sự, đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Thị Xuân.
Riêng Lê Thị Thanh Giang do đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TPHCM tiếp tục điều tra mở rộng xử lý đối với các đối tượng còn lại và tiến hành xác minh thu hồi tài sản các đối tượng đã chiếm đoạt.
Điều 174 quy định 04 khung hình phạt:
– Người phạm tội quy định tại khoản 1 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Người phạm tội quy định tại khoản 2 thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau:
+/ Có tổ chức.
+/ Có tính chất chuyên nghiệp.
+/ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
+/ Tái phạm nguy hiểm.
+/ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức. Đây là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,… đã lợi dụng vị trí công tác (chức vụ, quyền hạn) của mình trong các cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc tuy không có chức vụ, quyền hạn,… nhưng đã lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức để lừa đảo tài sản của người khác.
+/ Dùng thủ đoạn xảo quyệt. Đây là trường hợp chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối tinh vi như giả danh một cơ quan, tổ chức nào đó không có thật để lừa đảo bằng cách giả mạo con dấu, giả mạo đăng ký, bố trí trụ sở làm việc giả để giao dịch, thuê tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác…
– Người phạm tội quy định tại Khoản 3 thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau:
+/ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
+/ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
– Người phạm tội quy định tại khoản 4 thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau:
+/ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
+/ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.