Lê Văn Do bị tạm giữ vì sao?

Công an xác định đối tượng Lê Văn Do thực hiện hành vi trộm tài sản và tiến hành mời về trụ sở làm việc.

Công an xã Bình Giang cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang vừa ra Quyết định tạm giữ hình sự đối với Lê Văn Do (sinh năm 1979, ngụ tổ 2, ấp T5, xã Vĩnh Điều, tỉnh An Giang) về hành vi trộm cắp tài sản.

Theo Trang TTĐT Công an tỉnh An Giang, Công an xã Bình Giang nhận được tin báo của quần chúng Nhân dân tại tổ 5, ấp Đường Thét, xã Bình Giang, tỉnh An Giang bị mất trộm tài sản.

doi-tuong-van-do-1772066342.jpg
Đối tượng Lê Văn Do

Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã đã nhanh chóng cử lực lượng xuống hiện trường, phối hợp cùng quần chúng nhân dân tổ chức khoanh vùng, rà soát các đối tượng nghi vấn trên địa bàn và qua hình ảnh người dân cung cấp. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, chỉ sau 03 giờ truy xét, Công an xã đã xác định đối tượng Lê Văn Do là đối tượng thực hiện hành vi trộm nêu trên và tiến hành mời đối tượng về trụ sở Công an làm việc.

Tại cơ quan điều tra, đối tượng khai nhận do thiếu tiền tiêu xài nên đã lợi dụng sơ hở của người dân không khóa cửa cổng trộm 01 điện thoại Sam Sung A16 5G, 01 điện thoại Iphone 12 Promax. 

Hiện vụ việc đang được Công an xã tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định.

Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), cụ thể như sau:

* Khung 1:

Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

+ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

+ Tài sản là di vật, cổ vật.

* Khung 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

+ Hành hung để tẩu thoát;

+ Tài sản là bảo vật quốc gia;

+ Tái phạm nguy hiểm.

* Khung 3:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

* Khung 4:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

* Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

3. Mức phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản
Đối với cá nhân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu, không gây ra hậu quả nghiêm trọng về giá trị tài sản (cụ thể là dưới 2.000.000 đồng) và chưa bị kết án về các tội về chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính

Cụ thể tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, cá nhân có hành vi trộm cắp tài sản chỉ có thể bị truy cứu TNHS về tội trộm cắp tài sản khi hành vi đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017).

 

Mai Anh (t/h)