Loại quả quen thuộc mọc khắp vùng quê Việt
Quả nhót có tên khoa học là Elaeagnus latifolia, thuộc nhóm cây bụi có gai. Quả nhót thường có hình bầu dục, trên bề mặt phủ một lớp vảy trắng mỏng có thể bong ra khi chà xát. Khi còn non, lớp vảy này khá dày và giảm dần khi quả chín.
Loại cây này được trồng khá phổ biến ở nhiều vùng miền tại Việt Nam. Khi còn xanh, quả nhót có màu xanh, vị chua và chát. Đến khi chín, quả chuyển sang màu đỏ gạch hoặc đỏ cam, có vị ngọt thanh dễ ăn.
Nhờ hương vị đặc trưng, nhót thường được ăn tươi, chấm muối ớt hoặc sử dụng trong một số món ăn như canh chua. Đây cũng là loại quả gắn liền với tuổi thơ của nhiều người tại các vùng nông thôn.
Chia sẻ trên VietNamNet, Lương y Bùi Đắc Sáng - Hội Đông Y Hà Nội cho biết, trong thành phần của quả nhót có khoảng 92% nước, 2% axit hữu cơ, 2,1% glucid, 1,25% protid và 2,3% cellulose. Ngoài ra, trong 100g nhót còn chứa khoảng 27mg canxi, 30mg phốt pho và 0,2mg sắt, cùng nhiều hợp chất sinh học như saponozit, tanin và polyphenol.
Nhiều dưỡng chất có lợi cho sức khỏe
Quả nhót chứa nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Hàm lượng vitamin A, C, E cùng các axit béo thiết yếu tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ bảo vệ cơ thể trước các tác nhân gây bệnh. Những dưỡng chất này còn góp phần làm đẹp da, giúp da sáng khỏe và hỗ trợ thị lực.
Quả nhót được cho là có khả năng hỗ trợ giảm cholesterol trong máu, từ đó góp phần hạn chế nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Đặc biệt, hàm lượng lycopene khá cao, đây một chất chống oxy hóa mạnh hỗ trợ phòng ngừa bệnh tim và một số loại ung thư.
Theo y học cổ truyền, quả nhót có vị chua, chát, tính bình, quy vào kinh phế và đại tràng. Loại quả này có tác dụng chỉ ho, trừ đờm, bình suyễn và cầm tiêu chảy. Quả nhót khi còn xanh được thu hoạch rồi thái thành các lát có độ dày 3-5mm, sau đó phơi hoặc sấy khô, tán bột làm thuốc hoặc sắc lấy nước uống.
Không chỉ quả, nhiều bộ phận khác của cây nhót cũng được dùng làm dược liệu. Lá nhót có vị chát, được dùng để trị ho, giảm sốt và hỗ trợ điều trị hen suyễn. Nhân hạt nhót có tác dụng sát khuẩn, hỗ trợ trị giun sán. Rễ nhót được sử dụng trong các bài thuốc cầm máu và giảm đau.
Tuy nhiên, chuyên gia cũng khuyến cáo dù là thực phẩm tự nhiên, nhót vẫn nên được sử dụng ở mức độ hợp lý. Nếu dùng làm dược liệu để điều trị bệnh, người dân nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc để đảm bảo an toàn và hiệu quả.