Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng sẽ bị thôi hưởng nếu thuộc một trong 5 trường hợp theo quy định.
5 trường hợp bị thôi hưởng trợ cấp xã hội
Thứ nhất, đối tượng chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, người đang hưởng trợ cấp không còn đáp ứng đầy đủ điều kiện hưởng chính sách theo Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP.
Thứ ba, đối tượng phải chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thôi hưởng trợ cấp.
Thứ tư, người thuộc diện được hưởng nhưng từ chối nhận chế độ, chính sách.
Trường hợp thứ năm liên quan đến việc xác định lại điều kiện hưởng chính sách. Cụ thể, nếu sau 3 tháng kể từ khi có quyết định tạm dừng chi trả mà người hưởng vẫn không thực hiện thủ tục xác định lại mức độ khuyết tật, điều kiện hưởng hoặc không cung cấp những thông tin phục vụ công tác quản lý theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì sẽ bị thôi hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.

Nghị định cũng quy định thời điểm thôi hưởng đối với trường hợp người đang hưởng trợ cấp chết hoặc không còn đủ điều kiện là từ tháng ngay sau tháng phát sinh sự việc.
Hai trường hợp bị tạm dừng trợ cấp
Bên cạnh quy định về thôi hưởng, Điều 9 Nghị định 335/2026/NĐ-CP cũng xác định những trường hợp bị tạm dừng hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng.
Theo đó, chính sách có thể bị tạm dừng khi người thụ hưởng không nhận chế độ liên tục từ 3 tháng trở lên.
Việc tạm dừng cũng được áp dụng nếu người hưởng không chấp hành yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xác định lại mức độ khuyết tật, xác định lại điều kiện hưởng trợ cấp, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc không cung cấp thông tin cần thiết phục vụ công tác quản lý.
Nếu sau thời gian tạm dừng, cơ quan chức năng xác định đối tượng vẫn đủ điều kiện thì việc hưởng chính sách được xử lý theo quy định. Ngược lại, trường hợp không còn đủ điều kiện sẽ bị quyết định thôi hưởng.
Những ai thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng?
Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định nhiều nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Trẻ em dưới 16 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt
Nhóm thứ nhất là trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp: bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; cả cha và mẹ đẻ đã chết hoặc một người đã chết và người còn lại không xác định được.
Trẻ có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích; đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng thuộc diện hưởng.
Chính sách cũng áp dụng khi cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích; cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; hoặc cả hai đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hay các quyết định xử lý hành chính nêu trên.
Ngoài ra, trẻ cũng thuộc diện hưởng khi cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích và người còn lại đang được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang chấp hành án phạt tù, quyết định xử lý hành chính; hay một người đang được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội còn người kia đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định xử lý hành chính theo quy định.
Người thuộc nhóm trên đã đủ 16 tuổi nhưng vẫn đang đi học
Người thuộc diện trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nêu trên, đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, khi đủ 16 tuổi vẫn được tiếp tục hưởng nếu đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc giáo dục đại học văn bằng thứ nhất.
Điều kiện là quá trình học liên tục, không bị gián đoạn, trừ trường hợp được tạm dừng học hoặc bảo lưu kết quả học tập theo quy định. Chính sách được tiếp tục cho đến khi người đó kết thúc việc học.
Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo
Nhóm thứ ba được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo.
Người đơn thân nghèo đang nuôi con
Người thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có vợ hoặc chồng nhưng người đó đã chết hoặc mất tích theo quy định và đang nuôi con dưới 16 tuổi thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Nếu người con đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc đại học văn bằng thứ nhất và quá trình học đáp ứng điều kiện theo quy định, người đơn thân nghèo nuôi con được tiếp tục hưởng trợ cấp cho đến khi người con kết thúc việc học.
Người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng thuộc diện được hưởng chính sách.
Ngoài ra, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng cũng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng
Người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của pháp luật về người khuyết tật thuộc nhóm được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo ở địa bàn đặc biệt khó khăn
Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, không thuộc một số nhóm đối tượng đã được hưởng theo các quy định khác tại Điều 5, đang sinh sống tại các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn cũng thuộc diện hưởng trợ cấp.
Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo
Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo, đồng thời không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng là nhóm thứ tám được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng lên 540.000 đồng/tháng

Một thay đổi đáng chú ý khác là mức chuẩn trợ giúp xã hội theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP được xác định ở mức 540.000 đồng/tháng.
Đây là căn cứ để tính mức trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và các chế độ trợ giúp khác. Nghị định được Chính phủ ban hành ngày 21/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 5/10/2026.
Mức trợ cấp thực tế của từng người được tính bằng mức chuẩn 540.000 đồng nhân với hệ số tương ứng của từng nhóm đối tượng.
Chẳng hạn, một số nhóm áp dụng hệ số 1,0 sẽ được hưởng 540.000 đồng/tháng; hệ số 1,5 tương ứng 810.000 đồng/tháng; hệ số 2,0 tương ứng 1,08 triệu đồng/tháng; hệ số 2,5 tương ứng 1,35 triệu đồng/tháng.
Mức cao nhất trong các trường hợp được nêu là hệ số 3,0, tương ứng 1,62 triệu đồng/tháng, áp dụng đối với một số người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ phụng dưỡng, đủ điều kiện vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.
Theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội hằng tháng có thể được gửi trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại Bộ phận Một cửa theo quy định.