Theo VnExpress, ngày 20/3, Phòng Cảnh sát Kinh tế (PC03) Công an TP HCM cho biết đã bắt tạm giam bà Tiền về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xảy ra tại Công ty TNHH Dịch vụ Bất động sản Đảo Vàng do bà này làm giám đốc, đại diện pháp luật.
Động thái này được đưa ra sau hơn 2 năm PC03 điều tra dấu hiệu lừa đảo trong vụ ký hợp đồng hợp tác đầu tư nhằm đảm bảo giao kết mua bán nền đất tại dự án Khu biệt thự cao cấp Búng Gội (Royal Streamy Villas) ở xã Cửa Dương, Phú Quốc, do Công ty CP Tập đoàn Tư vấn Đầu tư Xây dựng Kiên Giang làm chủ đầu tư.
Clip: Báo Người Lao Động
Theo điều tra ban đầu, ngày 1/3/2018, Công ty CP Tập đoàn Tư vấn Đầu tư Xây dựng Kiên Giang (trụ sở tại TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang) ký hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty TNHH Dịch vụ Bất động sản Đảo Vàng. Sau khi ký kết, dù chủ đầu tư chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, dự án chưa đủ điều kiện mở bán, Công ty Đảo Vàng vẫn tìm khách hàng, ký hợp đồng hợp tác đầu tư và thu số tiền tương ứng 95% giá trị lô đất từ nhiều người.
Theo Người Đưa Tin, từ tháng 3/2018 đến tháng 6/2023, Nguyễn Ngọc Tiền, Giám đốc Công ty GIS đã ký hợp đồng và thu hơn 131 tỷ đồng của nhiều khách hàng. Trong đó, cảnh sát đã làm việc với 13 bị hại, với số tiền chiếm đoạt hơn 41 tỷ đồng.
Đáng chú ý, trong quá trình làm việc với cơ quan chức năng, bà Tiền được ghi nhận giữ thái độ bình tĩnh, hợp tác. Một số hình ảnh, clip lan truyền cũng cho thấy nữ doanh nhân khá điềm tĩnh khi lực lượng chức năng công bố các quyết định liên quan.
Bên cạnh đó, Công an TPHCM đề nghị các cá nhân đã ký hợp đồng liên quan dự án này với Công ty GIS liên hệ trình báo, cung cấp hồ sơ để phục vụ điều tra mở rộng.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định cụ thể tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), cụ thể như sau:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Đã bị bãi bỏ;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Đã bị bãi bỏ;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.