Theo quy định tại Công văn 1198/CTL&BHXH-BHXH năm 2025 tiền lương đóng BHXH bắt buộc của NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định gồm:
- Lương tháng theo công việc/chức danh theo thang, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng được thỏa thuận trong hợp đồng;
- Các khoản phụ cấp bù đắp điều kiện lao động, tính chất công việc, sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng;
- Các khoản bổ sung cụ thể, trả thường xuyên, ổn định, thỏa thuận trong hợp đồng.
Tuy nhiên, đối với các chế độ và phúc lợi khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động không phải là tiền lương làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, gồm:
(1) Thưởng phụ cấp chuyên cần cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động;
(2) Tiền thưởng sáng kiến;
(3) Tiền ăn giữa ca;
(4) Hỗ trợ xăng xe;
(5) Hỗ trợ điện thoại;
(6) Hỗ trợ đi lại;
(7) Hỗ trợ tiền nhà ở;
(8) Hỗ trợ tiền giữ trẻ;
(9) Hỗ trợ nuôi con nhỏ;
(10) Hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết;
(11) Hỗ trợ khi người lao động có người thân kết hôn;
(12) Hỗ trợ khi người lao động có sinh nhật;
(13) Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động;
(14) Trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị bệnh nghề nghiệp.
Như vậy, 14 khoản phụ cấp được miễn đóng BHXH bắt buộc nếu được ghi riêng lẻ, tách biệt trong hợp đồng lao động dưới dạng khoản phúc lợi hoặc hỗ trợ, không gộp chung vào phụ cấp lương hay thu nhập cố định dùng để tính đóng BHXH.
Trường hợp 14 khoản này bị ghi sai mục hoặc gộp chung với tiền lương, cơ quan BHXH có thể xem đây là thu nhập để tính đóng BHXH và yêu cầu truy đóng số tiền BHXH tương ứng.
Theo báo Lao Động:
Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa ban hành Kế hoạch số 216/KH-BHXH về kiểm tra, rà soát văn bản năm 2026 nhằm tổ chức triển khai đồng bộ, kịp thời, đúng quy định công tác kiểm tra, rà soát văn bản trong toàn Hệ thống; qua đó bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất của hệ thống văn bản thuộc lĩnh vực hoạt động của BHXH Việt Nam.
Theo kế hoạch, công tác kiểm tra, rà soát văn bản được thực hiện trên cơ sở tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; đồng thời xác định rõ nội dung công việc, tiến độ, thời hạn thực hiện và trách nhiệm của các đơn vị trong toàn hệ thống BHXH Việt Nam.
Phạm vi kiểm tra tập trung vào các: Thông tư do BHXH Việt Nam chủ trì soạn thảo trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành trong năm 2026; văn bản hành chính do BHXH Việt Nam chủ trì soạn thảo trình Bộ Tài chính ban hành; văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, quy định, quy chế có phạm vi điều chỉnh toàn Hệ thống do BHXH Việt Nam ban hành trong năm 2026.
Phạm vi rà soát bao gồm các: Văn bản quy phạm pháp luật do BHXH Việt Nam chủ trì soạn thảo trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành năm 2025; các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, quy định, quy chế có phạm vi điều chỉnh toàn Hệ thống do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành.
Nội dung rà soát tập trung phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trái pháp luật (nếu có) để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới; đồng thời lập, công bố danh mục văn bản còn hiệu lực, hết hiệu lực, ngưng hiệu lực theo quy định.
Ban Pháp chế được giao chủ trì hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và tổng hợp tình hình thực hiện Kế hoạch; xây dựng báo cáo kết quả công tác kiểm tra, rà soát và phương án xử lý văn bản trình lãnh đạo BHXH Việt Nam phê duyệt; thực hiện chế độ báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tài chính.
Các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam và BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ được phân công; chủ động phản ánh những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn để kịp thời đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp.