Chuyển đổi hình phạt tù đối với người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi như thế nào?
Theo Thư viện pháp luật, căn cứ Điều 6 Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC quy định chuyển đổi hình phạt tù đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi như sau:
- Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 15 năm tù và trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất không quá ba phần năm mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC.

- Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 18 năm tù và trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự 2015 quy định khi người được đề nghị chuyển giao phạm một trong các tội sau đây:
+ Tội giết người
+ Tội hiếp dâm
+ Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
+ Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
+ Tội sản xuất trái phép chất ma túy.
Quy định phân loại tội phạm trong Bộ luật Hình sự như thế nào?
Căn cứ Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định về phân loại tội phạm như sau:
(1) Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm
- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù.

- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù.
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
(2) Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự 2015
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định như thế nào?
Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự 2015 có quy định khác.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự 2015