Có thể trả lại tiền, vàng của người bị tạm giam thay vì sung công quỹ, cụ thể ra sao?

Bộ Công an đề xuất thay đổi cách xử lý tiền, vàng... bị phát hiện trong buồng tạm giữ, tạm giam theo hướng bảo quản, trả lại cho người sở hữu thay vì mặc nhiên sung công quỹ như hiện nay.

Theo VnExpress, nội dung được nêu trong dự thảo Thông tư quy định nội quy cơ sở giam giữ và danh mục đồ vật cấm đưa vào khu vực giam giữ, đang được Bộ Công an lấy ý kiến. Văn bản áp dụng với người bị tạm giữ, tạm giam cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

Theo dự thảo, cách xử lý đồ vật cấm sẽ mềm dẻo hơn so với Thông tư 32/2017 hiện hành. Hiện nay, việc xử lý tiền mặt, vàng, đá quý bị thu giữ phụ thuộc nhiều vào thái độ của người bị giam giữ.

Cụ thể, nếu người bị tạm giữ, tạm giam tự giác giao nộp thì tài sản được gửi lưu ký hoặc giao cho thân nhân. Ngược lại, nếu bị cán bộ phát hiện đang tàng trữ, số tài sản này sẽ được gửi Kho bạc Nhà nước và đề nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định, thường là tịch thu sung quỹ Nhà nước.

1-1775875978.jpg
Có thể trả lại tiền, vàng của người bị tạm giam thay vì sung công quỹ, cụ thể ra sao? Ảnh minh họa

Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng cho rằng cách xử lý này "chưa hợp lý".

Theo dự thảo mới, nếu xác định được chủ sở hữu, tài sản sẽ được bảo quản, niêm phong và gửi lưu ký để bàn giao lại sau khi người đó ra khỏi cơ sở giam giữ.

Như vậy, dù tiền mặt, tài sản bị phát hiện trong quá trình kiểm tra hay do người khác tự giao nộp, nếu xác định thuộc sở hữu của người bị tạm giữ, tạm giam thì cơ sở giam giữ có trách nhiệm giữ hộ và hoàn trả khi họ hết thời hạn bị giữ, giam.

Chỉ khi không xác định được chủ sở hữu, cơ sở giam giữ mới báo cáo cấp có thẩm quyền để xác lập quyền sở hữu toàn dân theo Luật Quản lý tài sản công.

Để tránh thất thoát và bảo đảm khách quan, dự thảo cũng quy định rõ quy trình thu giữ. Khi phát hiện tiền mặt trong khu vực giam giữ, cán bộ phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng.

Các vật nghi là vàng, bạc, kim loại quý hoặc tiền phải được niêm phong, có chữ ký hoặc dấu vân tay của người vi phạm và người làm chứng.

Ngoài ra, theo Khoản 1 Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:

- Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

- Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

- Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

- Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

- Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

- Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

- Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam;

- Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

- Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

- Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các nghĩa vụ sau đây:

- Chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam;

- Chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, quy định Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và pháp luật có liên quan.

Phương Anh (T/h)