Ngày 09/01/2026, Bộ Tài chính ban hành Công văn 294/BTC-NSNN về việc báo cáo nhu cầu, nguồn cải cách tiền lương và chế độ tiền thưởng năm 2025.
Căn cứ quy định của Luật Ngân sách nhà nước 2015 và các văn bản hướng dẫn, Nghị quyết 160/2024/QH15 về việc phân bổ ngân sách trung ương năm 2025, Quyết định 1500/QĐ-TTg ngày 30/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2025, Quyết định 2638/QĐ-TTg ngày 03/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Thông tư 62/2024/TT-BTC hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP và điều chỉnh trợ cấp hằng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo Nghị định 75/2024/NĐ-CP, Thông tư 88/2024/TT-BTC quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2025, để đảm bảo tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền về nhu cầu, nguồn cải cách tiền lương làm cơ sở xử lý các nội dung liên quan khác đúng niên độ ngân sách;
Bộ Tài chính đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố chỉ đạo các cơ quan có liên quan tham mưu để tổng hợp, báo cáo nhu cầu, nguồn cải cách tiền lương, chế độ tiền thưởng năm 2025; kết quả chi trả chế độ, chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị định 177/2024/NĐ-CP, Nghị định 178/2024/NĐ-CP, Nghị định 67/2025/NĐ-CP, của Chính phủ (theo biểu số 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08 đính kèm), gửi Bộ Tài chính chậm nhất trước ngày 20/01/2026 để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định.
Bộ Tài chính xin thông báo Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố biết, chỉ đạo các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, tiền thưởng năm 2025 và cải cách tiền lương đối với CBCCVC được Bộ Tài chính yêu cầu tham mưu để tổng hợp, gửi báo cáo trước ngày 20/01/2026 để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định.
Bộ Nội vụ cho biết, ngày 30/6/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2024/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Trong đó tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 nghị định này đã quy định về đối tượng thực hiện chế độ tiền thưởng và giao người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xây dựng Quy chế cụ thể để thực hiện chế độ tiền thưởng áp dụng đối với các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.
Quỹ tiền thưởng hằng năm quy định tại điều trên nằm ngoài quỹ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng, được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương (không bao gồm phụ cấp) theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và cấp bậc quân hàm của các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.
Đến hết ngày 31/1 của năm sau liền kề, nếu cơ quan, đơn vị không sử dụng hết quỹ tiền thưởng của năm thì không được chuyển nguồn vào quỹ tiền thưởng của năm sau.
Việc tổ chức thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức ở tỉnh thuộc thẩm quyền của chủ tịch UBND tỉnh.