Giáo viên được nghỉ hưu sớm 5 tuổi, muộn tối đa 10 tuổi, cụ thể ra sao?

Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực từ 1/1 với nhiều điểm nổi bật. Trong đó, Luật quy định tuổi nghỉ hưu của nhà giáo thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Theo báo Dân Trí, Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực từ 1/1 với nhiều điểm nổi bật. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc hội ban hành đạo luật riêng quy định đầy đủ về vị trí, vai trò, quyền, nghĩa vụ và các chế độ, chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo; cụ thể hóa chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong việc tôn vinh, chăm lo, bảo vệ và phát triển đội ngũ nhà giáo.

Điểm mới nhận được sự quan tâm là chế độ nghỉ hưu đối với nhà giáo. Luật quy định tuổi nghỉ hưu của nhà giáo thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đáng chú ý, nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non nếu có nguyện vọng thì có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường nhưng không quá 5 tuổi.

Trường hợp giáo viên có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Như vậy, từ năm 2026, cô giáo mầm non được nghỉ hưu nếu đủ 52 tuổi, thầy giáo mầm non được nghỉ hưu nếu đủ 56 tuổi 6 tháng; với điều kiện đóng đủ 15 năm bảo hiểm xã hội.

1-1767578878.jpg
Giáo viên được nghỉ hưu sớm 5 tuổi, muộn tối đa 10 tuổi, cụ thể ra sao? Ảnh minh họa

Theo báo Lao Động, căn cứ Luật Nhà giáo 2025 (Điều 27), các nhóm giáo viên có thể được nghỉ hưu ở tuổi cao hơn gồm:

Giáo viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư.

Giáo viên có trình độ tiến sĩ.

Giáo viên làm việc trong ngành, lĩnh vực chuyên sâu đặc thù.

Việc kéo dài tuổi nghỉ hưu nhằm giữ chân và phát huy kinh nghiệm, trí tuệ của đội ngũ chuyên gia trong hệ thống giáo dục công lập.

Theo Người Đưa Tin, bên cạnh chính sách nghỉ hưu, Luật Nhà giáo dành nhiều quy định về tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo. Theo đó, tiền lương của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp; Chính phủ quy định chi tiết chính sách tiền lương đối với nhà giáo trên cơ sở nguyên tắc này.

Ngoài tiền lương, nhà giáo còn được hưởng các khoản phụ cấp và hỗ trợ theo tính chất công việc và theo vùng, bao gồm phụ cấp đặc thù, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp ưu đãi, trợ cấp vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, trợ cấp giáo dục hòa nhập, thâm niên, lưu động và các chế độ hỗ trợ khác theo quy định.

Luật cũng quy định nhà giáo ở cả khu vực công lập và ngoài công lập được hưởng chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng; hỗ trợ chăm sóc sức khỏe định kỳ và chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp; được bố trí nhà ở công vụ, chỗ ở tập thể hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà khi công tác tại vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, có chính sách thu hút, trọng dụng đối với người có trình độ cao, có tài năng, có năng khiếu đặc biệt, có kỹ năng nghề cao và nhà giáo làm việc trong các lĩnh vực trọng yếu, thiết yếu.

Một điểm mới khác là Luật Nhà giáo bãi bỏ hệ thống phân hạng nhà giáo I, II, III trước đây, thay bằng khái niệm chức danh nhà giáo được xác định theo yêu cầu nghề nghiệp trong từng cấp học và trình độ đào tạo. Chính phủ sẽ ban hành nghị định quy định chi tiết về chức danh nhà giáo và các nội dung liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện.

Phương Anh (T/h)