Quy định về hồ sơ mua nhà ở xã hội năm 2026 được cập nhật theo Nghị định 54/2026/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung Nghị định 100/2024/NĐ-CP. Bên cạnh việc thuộc nhóm được hưởng chính sách, người đăng ký còn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ để chủ đầu tư xét duyệt.

Hồ sơ mua nhà ở xã hội năm 2026 gồm 2 nhóm giấy tờ chính
Theo Điều 34 Nghị định 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 38 Nghị định 100/2024/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội gồm:
- Đơn đăng ký mua nhà ở xã hội theo Mẫu số 01 Phụ lục II ban hành kèm Nghị định 100/2024/NĐ-CP.
- Giấy tờ chứng minh đối tượng và điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Đáng chú ý, giấy tờ chứng minh đối tượng và điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội có giá trị trong 12 tháng kể từ thời điểm được xác nhận.
Người đăng ký cũng phải cam kết chưa được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở và chịu trách nhiệm bảo đảm bản thân đáp ứng đầy đủ điều kiện tại thời điểm ký hợp đồng mua bán.
Một quy định quan trọng khác là mỗi hộ gia đình, cá nhân không được đồng thời đăng ký mua nhà ở xã hội tại nhiều dự án trong cùng một thời điểm.
Người có nhu cầu mua nhà ở xã hội có thể lựa chọn một trong các phương thức nộp hồ sơ gồm:
- Nộp hồ sơ trực tuyến;
- Nộp qua dịch vụ bưu chính;
- Nộp thông qua cơ quan, đơn vị hoặc doanh nghiệp nơi người đăng ký đang làm việc để đơn vị tổng hợp và gửi cho chủ đầu tư.
Như vậy, người đăng ký không nhất thiết phải trực tiếp đến chủ đầu tư để nộp hồ sơ như cách thức truyền thống.

13 nhóm đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách nhà ở xã hội
Theo Điều 76 Luật Nhà ở 2023, được nguồn dẫn cập nhật theo Luật Dân số 2025, có 13 nhóm đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Các nhóm này bao gồm người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ thuộc diện được hỗ trợ cải thiện nhà ở; hộ nghèo, cận nghèo ở nông thôn; hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu; hộ nghèo, cận nghèo tại đô thị; người thu nhập thấp ở đô thị; công nhân và người lao động tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.
Ngoài ra còn có một số đối tượng thuộc lực lượng vũ trang, cơ yếu; cán bộ, công chức, viên chức; người đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định; hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà nhưng chưa được bồi thường bằng nhà ở hoặc đất ở.
Học sinh, sinh viên thuộc nhóm luật quy định; doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu công nghiệp và người có từ 2 con đẻ trở lên cũng nằm trong danh sách được bài viết cập nhật.
Chưa có nhà ở được xác định thế nào?
Một trong những điều kiện quan trọng được bài viết đề cập là điều kiện về nhà ở.
Theo Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 32 Nghị định 54/2026/NĐ-CP, trường hợp được xác định là chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình khi người thuộc đối tượng quy định và vợ hoặc chồng của người đó, nếu có, không có tên hoặc không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố nơi có dự án nhà ở xã hội.
Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tại địa phương nơi có dự án có trách nhiệm xác nhận trường hợp này.
Không phải cứ đã sở hữu nhà ở thì đương nhiên không đủ điều kiện mua nhà ở xã hội.
Theo quy định được nguồn dẫn, trường hợp đã có nhà ở thuộc sở hữu nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15m² sàn/người vẫn thuộc trường hợp được xem xét về điều kiện nhà ở.
Diện tích bình quân đầu người được xác định dựa trên những người đăng ký thường trú tại căn nhà, bao gồm người đứng đơn, vợ hoặc chồng, cha mẹ nếu có và các con nếu có.
Đối với trường hợp này, trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được đơn đề nghị xác nhận diện tích nhà ở bình quân đầu người, UBND cấp xã thực hiện việc xác nhận.