Mức phạt vi phạm chế độ một vợ, một chồng mới nhất năm 2026
Theo Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, các hành vi vi phạm quy định về hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ một vợ, một chồng, sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức từ 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng, tùy tính chất và mức độ vi phạm.

Mức phạt từ 5 - 10 triệu đồng
Cá nhân có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu thực hiện một trong các hành vi sau:
* Đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác; hoặc chưa có vợ, chưa có chồng nhưng kết hôn với người mà mình biết rõ đang có vợ hoặc chồng.
* Đang có vợ hoặc chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người khác.
* Chưa có vợ hoặc chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người mà biết rõ đang có vợ hoặc chồng.
* Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có quan hệ bị pháp luật cấm như cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
* Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
Mức phạt từ 10 - 20 triệu đồng
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi:
* Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời.
* Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.
* Cưỡng ép, lừa dối kết hôn hoặc cưỡng ép, lừa dối ly hôn.
* Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước hoặc nhằm mục đích khác không phải xây dựng gia đình.
* Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách dân số hoặc vì mục đích khác không nhằm chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài xử phạt tiền, người vi phạm còn buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi lợi dụng việc kết hôn hoặc ly hôn theo quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Một số lưu ý
* Mức phạt nêu trên áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm tương tự thì mức phạt bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân, trừ các trường hợp được quy định riêng.
* Nghị định 109/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 18/5/2026, thay thế Nghị định 82/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

Chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn được giải quyết thế nào?
Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nam, nữ đủ điều kiện kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ đối với con chung, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên vẫn được giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu sau đó hai bên thực hiện đăng ký kết hôn hợp pháp thì quan hệ hôn nhân được xác lập kể từ thời điểm đăng ký.
Ai có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật?
Theo Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, người có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm:
* Người bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối kết hôn.
* Vợ hoặc chồng của người đang có vợ, có chồng nhưng vẫn kết hôn với người khác.
* Cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người kết hôn trái pháp luật.
* Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và Hội Liên hiệp Phụ nữ.
* Các cá nhân, tổ chức khác khi phát hiện hành vi kết hôn trái pháp luật có thể đề nghị các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xem xét hủy việc kết hôn.