Mức tham chiếu là một trong những khái niệm đáng chú ý được quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024, có liên quan trực tiếp đến việc xác định mức đóng và mức hưởng một số chế độ BHXH.
Theo Điều 7 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức tham chiếu là mức tiền do Chính phủ quyết định, được sử dụng để tính mức đóng, mức hưởng một số chế độ BHXH.
Mức này được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế, đồng thời phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và Quỹ BHXH.
Khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định, khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu bằng mức lương cơ sở. Tại thời điểm mức lương cơ sở bị bãi bỏ, mức tham chiếu không được thấp hơn mức lương cơ sở tại thời điểm đó.
Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở là 2,53 triệu đồng/tháng. Do mức lương cơ sở hiện vẫn được áp dụng nên mức tham chiếu tương ứng là 2,53 triệu đồng/tháng.

Mức đóng BHXH bắt buộc tối đa được tính thế nào?
Theo điểm đ khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Luật quy định tỷ lệ đóng vào quỹ ốm đau và thai sản là 3% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH; tỷ lệ đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất là 22%. Tổng tỷ lệ đóng vào hai quỹ này là 25%.
Cần lưu ý, 25% là tổng tỷ lệ đóng của người lao động và người sử dụng lao động trong trường hợp thông thường, không phải toàn bộ số tiền này đều do người lao động đóng.
Thông thường, người lao động đóng 8% vào quỹ hưu trí và tử tuất; người sử dụng lao động đóng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản và 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Nếu tính theo tổng tỷ lệ 25% được nêu trong tài liệu, với mức tham chiếu 2,53 triệu đồng/tháng, mức tương ứng tại ngưỡng tiền lương thấp nhất là: 2.530.000 đồng x 25% = 632.500 đồng/tháng.
Ở ngưỡng tiền lương tối đa bằng 20 lần mức tham chiếu, số tiền tương ứng là: 20 x 2.530.000 đồng x 25% = 12.650.000 đồng/tháng.
Như vậy, theo cách tính tổng tỷ lệ 25% trong tài liệu, số tiền đóng vào hai quỹ BHXH nêu trên dao động từ 632.500 đồng đến 12,65 triệu đồng/tháng tùy mức tiền lương làm căn cứ đóng.

BHXH tự nguyện thấp nhất 330.000 đồng/tháng trước hỗ trợ
Đối với BHXH tự nguyện, cách xác định mức đóng có sự khác biệt. Theo khoản 2 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Trong năm 2026, mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn được tài liệu xác định là 1,5 triệu đồng/người/tháng.
Mức đóng BHXH tự nguyện hằng tháng bằng 22% mức thu nhập mà người tham gia lựa chọn làm căn cứ đóng.
Theo đó, mức thấp nhất trước khi trừ hỗ trợ của Nhà nước là: 1.500.000 đồng x 22% = 330.000 đồng/tháng.
Mức cao nhất trước hỗ trợ là: 20 x 2.530.000 đồng x 22% = 11.132.000 đồng/tháng.
Người tham gia BHXH tự nguyện còn được Nhà nước hỗ trợ một phần tiền đóng. Mức hỗ trợ được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mức đóng BHXH tự nguyện hằng tháng tính theo chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn.
Người thuộc hộ nghèo hoặc đang sinh sống tại xã đảo, đặc khu được hỗ trợ 50%, tương ứng 165.000 đồng/tháng. Như vậy, mức thực tế phải tự đóng tối thiểu còn 165.000 đồng/tháng.
Người thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ 40%, tương ứng 132.000 đồng/tháng, nên mức tự đóng tối thiểu còn 198.000 đồng/tháng.
Người dân tộc thiểu số được hỗ trợ 30%, tương ứng 99.000 đồng/tháng, nên mức tự đóng tối thiểu là 231.000 đồng/tháng.
Đối với những người tham gia khác, mức hỗ trợ là 20%, tương ứng 66.000 đồng/tháng. Sau khi trừ hỗ trợ, mức thực tế phải đóng tối thiểu là 264.000 đồng/tháng.
Trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều nhóm được hỗ trợ thì được áp dụng mức hỗ trợ cao nhất. Thời gian được hỗ trợ phụ thuộc thời gian tham gia BHXH tự nguyện thực tế nhưng tối đa không quá 10 năm, tương ứng 120 tháng.
Ngoài khoản hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tùy điều kiện của từng địa phương, HĐND cấp tỉnh có thể quyết định hỗ trợ thêm. Vì vậy, số tiền người tham gia BHXH tự nguyện thực tế phải tự đóng có thể thấp hơn các mức nêu trên.