Chính phủ vừa trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự thảo Nghị quyết về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh (GTGC) của thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Việc điều chỉnh mức GTGC được thực hiện nhằm đảm bảo thực hiện kịp thời quy định tại khoản 4 Điều 1 Luật số 26/2012/QH13, đảm bảo thu nhập khả dụng sau khi nộp thuế của người dân phù hợp với biến động của giá cả từ năm 2020. Theo quy định hiện hành, nếu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20% so với thời điểm Luật có hiệu lực hoặc thời điểm điều chỉnh gần nhất, Chính phủ phải trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức GTGC.
Tờ trình nêu, dựa trên số liệu của Cục Thống kê, chỉ số CPI lũy kế dự kiến đến hết năm 2025 đã biến động khoảng 21,24% so với năm 2020 (thời điểm điều chỉnh gần nhất theo Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14). Mức GTGC hiện hành là 11 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế và 4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc, áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020.

Bộ Tài chính đã đề xuất hai phương án điều chỉnh mức GTGC:
|
Phương án 1 (Theo tốc độ tăng CPI): Điều chỉnh mức giảm trừ tương ứng với mức tăng của chỉ số CPI (khoảng 21,24%). Theo đó, người nộp thuế sẽ tăng lên 13,3 triệu đồng/tháng và người phụ thuộc tăng lên 5,3 triệu đồng/tháng. Phương án này dự kiến làm giảm thu ngân sách nhà nước (NSNN) khoảng 12.000 tỷ đồng/năm. Phương án 2 (Theo tốc độ tăng thu nhập và GDP bình quân đầu người): Căn cứ vào tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người và GDP bình quân đầu người từ 2020 đến nay (khoảng 40-42%). Theo đó, mức giảm trừ cho người nộp thuế sẽ tăng lên 15,5 triệu đồng/tháng (tăng khoảng 40,9%) và cho mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng (tăng khoảng 40,9%). Phương án này dự kiến làm giảm thu NSNN khoảng 21.000 tỷ đồng/năm. |
Qua tổng hợp ý kiến đa số, Chính phủ đã quyết định trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức GTGC theo Phương án 2. Chính phủ đề xuất Nghị quyết sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Như vậy, tăng mức giảm trừ gia cảnh đối với người nộp thuế là từ 11 triệu lên 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm). Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng, áp dụng từ kỳ tính thuế 2026.
Công thức tính mức thu nhập đóng thuế TNCN theo Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành:
|
Thu nhập chịu thuế = Tổng thu nhập – (Các khoản BHXH bắt buộc + Giảm trừ gia cảnh cá nhân + Giảm trừ cho người phụ thuộc) |
Theo đó, mức thu nhập không phải đóng thuế TNCN khi mức giảm trừ gia cảnh 15,5 triệu đồng và giảm trừ cho người phụ thuộc 6,2 triệu đồng được tính như sau:
- Đối với người nộp thuế không có người phụ thuộc và mức đóng BHXH bắt buộc là 10,5%/tổng thu nhập: Trong khoảng từ 17,3 triệu đồng/tháng trở xuống
- Đối với người nộp thuế có người phụ thuộc và mức đóng BHXH bắt buộc là 10,5%/tổng thu nhập:
+ Có 01 người phụ thuộc: Trong khoảng từ 24 triệu đồng/tháng trở xuống
+ Có 02 người phụ thuộc: Trong khoảng từ 31 triệu đồng/tháng trở xuống
+ Có 03 người phụ thuộc: Trong khoảng từ 38 triệu đồng/tháng trở xuống
[...]
Như vậy, từ 2026, theo mức giảm trừ gia cảnh mới, cá nhân là người nộp thuế (nếu không có người phụ thuộc) có mức thu nhập dưới 17 triệu đồng/tháng thì sau khi trừ các khoản bảo hiểm 10,5% và giảm trừ cho bản thân, người nộp thuế sẽ chưa phải nộp thuế TNCN theo quy định.

Ngoài ra, căn cứ theo Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 quy định đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
- Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
- Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
+ Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
+ Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
- Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007.