Theo báo Dân Trí, ngày 20/3, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhung (37 tuổi, ở Hà Đông) mức án 22 năm tù về các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Cơ quan tố tụng xác định, Nhung gây án với 6 bị hại, chiếm đoạt hơn 10,2 tỷ đồng.
Cáo trạng thể hiện Nguyễn Thị Nhung (cựu kế toán UBND phường La Khê, quận Hà Đông cũ nay là phường Hà Đông, Hà Nội), do cần tiền chi tiêu cá nhân và đầu tư làm ăn nên đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người.
Theo cáo buộc, từ năm 2017 đến 2022, bị cáo đặt làm giả 5 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đưa ra thông tin gian dối về khả năng làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xin cấp giấy chứng nhận; đồng thời tự lập biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp để yêu cầu bị hại nộp tiền, qua đó chiếm đoạt hơn 10,2 tỷ đồng.
Theo báo Tiền Phong, số này có ông Lê Đăng T. (56 tuổi, ở Hà Nội). Năm 2017, biết gia đình ông T. có nhu cầu tách thửa đất ao và xin cấp giấy chứng nhận, Nhung tiếp tục đưa thông tin gian dối, yêu cầu chuyển tiền nhiều lần để “chạy” thủ tục, chiếm đoạt hơn 867 triệu đồng.
Đến năm 2021, để che giấu hành vi, Nhung thuê làm giả 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao 2 giấy cho ông T..
Cùng trong năm 2021 này, vợ chồng ông T. có thửa đất chăn nuôi rộng 204m2 tại phường Hà Đông, muốn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nhờ Nhung làm thủ tục. Bị cáo tiếp tục đưa thông tin gian dối, khẳng định có thể làm sổ đỏ, yêu cầu ông T. đưa hơn 471 triệu đồng để “ngoại giao”.
Sau khi nhận tiền, bị cáo không thực hiện thủ tục, không liên hệ “chạy” giấy tờ như đã hứa mà dùng vào chi tiêu cá nhân, đầu tư làm ăn.
Ngoài ra, tháng 11/2021, bị cáo còn dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác cùng giấy ủy quyền, giả làm chủ đất để bán cho anh V. V. H. (37 tuổi, ở Hà Nội) với giá 3,8 tỷ đồng. Anh H. đã chuyển đủ tiền, trong đó có 300 triệu đồng đặt cọc.
Bị cáo Nhung khai đã đưa toàn bộ số tiền này cho một người đàn ông để làm ăn nhưng bị thua lỗ...
Các khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự
* Khung 1
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
* Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
* Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
* Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
* Hình phạt bổ sung
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
(Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017))