Tặng quà 1.000.000 đồng cho mỗi trẻ em dịp Tết Trung thu 2026 theo Nghị quyết 16, cụ thể trong trường hợp nào?

Theo Nghị quyết 16, nhân dịp Tết Trung thu năm 2026, một số trẻ em thuộc diện quy định sẽ được nhận mức quà tặng 1.000.000 đồng/trẻ. Vậy cụ thể những trường hợp nào được áp dụng?

HĐND TP.Hà Nội ban hành Nghị quyết 16/2026/NQ-HĐND Quy định mức hỗ trợ kinh phí hoạt động hằng năm của Đại diện các Ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày thành phố Hà Nội và nội dung, mức quà tặng của Thành phố tới các đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán; kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7; ngày Quốc khánh 02/9; ngày Quốc tế thiếu nhi và Tết Trung thu có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Theo đó, Nghị quyết 16/2026/NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ kinh phí hoạt động hằng năm của Đại diện các Ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày thành phố Hà Nội; mức hỗ trợ kinh phí hằng năm, các năm chẵn và năm tròn đối với các Ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày trên địa bàn thành phố Hà Nội; quy định nội dung và mức quà tặng của thành phố Hà Nội tới các đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán; kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7; ngày Quốc khánh 02/9; quy định nội dung và mức quà tặng của thành phố Hà Nội tới trẻ em nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6 và ngày Tết Trung thu.

11-1784878215.jpg
Tặng quà 1.000.000 đồng cho mỗi trẻ em dịp Tết Trung thu 2026 theo Nghị quyết 16, cụ thể trong trường hợp nào? Ảnh minh họa

Tại Điều 3 Nghị quyết 16/2026/NQ-HĐND Quy định nội dung và mức tặng quà của thành phố Hà Nội tới trẻ em nhân dịp Ngày Quốc tế thiếu nhi 01/6 và Ngày Tết Trung thu như sau:

- Mức quà 1.000.000 đồng/em/lần đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trẻ em mồ côi cả cha và mẹ (con của người lao động hoặc người hưởng lương hưu chết) đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng.

Như vậy, dịp Tết trung thu năm 2026 sẽ tặng quà 1.000.000 đồng cho mỗi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trẻ em mồ côi cả cha và mẹ (con của người lao động hoặc người hưởng lương hưu chết) đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng.

Lưu ý: Nghị quyết 16/2026/NQ-HĐND Quy định mức hỗ trợ kinh phí hoạt động hằng năm của Đại diện các Ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày thành phố Hà Nội và nội dung, mức quà tặng của Thành phố tới các đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán; kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7; ngày Quốc khánh 02/9; ngày Quốc tế thiếu nhi và Tết Trung thu.

chatgpt-image-jul-24-2026-11-43-33-am-1784878285.png

Ngoài ra, căn cứ Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định trẻ em thuộc đối tượng bảo trợ xã hội khi:

* Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

- Mồ côi cả cha và mẹ;

- Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

- Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

- Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

- Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

- Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội;

- Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

* Người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi.

* Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

* Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

* Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

- Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng;

- Người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

* Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 3 và 6 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

* Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng như tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng.

Phương Anh (T/h)