Thay đổi thời gian nghỉ chế độ thai sản năm 2026, thông tin đáng chú ý ai cũng cần biết

Thời gian nghỉ thai sản năm 2026 sẽ có sự thay đổi.
che-do-thai-san-2806105151-1768468096.png
Thời gian nghỉ thai sản năm 2026 sẽ có sự thay đổi. Ảnh minh họa

Theo Thư viện pháp luật, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con đối với lao động nữ được quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, như sau:

(i) Lao động nữ

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con của lao động nữ khi sinh con là 06 tháng. Trong đó, thời gian nghỉ trước khi sinh con không quá 02 tháng.

Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, sẽ nhận được:

- Tiền lương cho những ngày làm việc do công ty chi trả.

- Tiếp tục nhận trợ cấp thai sản theo mức quy định tại Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

(ii) Lao động nam

Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản với thời gian như sau:

- 05 ngày làm việc;

- 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;

- Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi;

- Trường hợp vợ sinh đôi phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên phải phẫu thuật thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi.

* Từ 01/7/2026:

(i) Lao động nữ

- Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.

- Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, sẽ nhận được:

- Tiền lương cho những ngày làm việc do công ty chi trả.

- Tiếp tục nhận trợ cấp thai sản theo mức quy định tại Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

(ii) Lao động nam

Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản với thời gian như sau:

- 05 ngày làm việc;

- 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;

- Trường hợp vợ sinh đôi hoặc vợ sinh con thứ hai thì được nghỉ 10 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi.

- Trường hợp vợ sinh đôi phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc. Trường hợp sinh ba trở lên phải phẫu thuật thì được nghỉ thêm 03 ngày làm việc cho mỗi con tính từ con thứ ba trở đi.

(khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, sửa đổi bởi Luật Dân số 2025).

Điều kiện hưởng chế độ thai sản của nam giới

Căn cứ theo quy định tại khoản e Điều 31 Luật BHXH 2014 số 58/2014QH13, người lao động được hưởng chế độ thai sản cho nam giới là NLĐ nam đang tham gia BHXH và có vợ sinh con.

Chồng không nghỉ việc khi vợ sinh con thì có được nhận tiền thai sản không?

Theo quy định, chế độ bảo hiểm xã hội được quy định là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết.

Do đó, nếu vẫn đi làm bình thường khi vợ sinh con, lao động nam vẫn được công ty trả lương theo công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, tức không bị mất hoặc giảm sút thu nhập từ tiền lương do sự kiện vợ sinh con.

Chính vì vậy, nếu không nghỉ chăm vợ sinh con thì lao động nam sẽ không được thanh toán tiền chế độ thai sản.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ:

- 05 ngày làm việc với sinh thường 1 con;

- 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;

- 10 ngày làm việc với trường hợp sinh đôi, từ sinh ba thì thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày làm việc, tối đa không quá 14 ngày làm việc

- Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

- Thời gian hưởng chế độ không tính ngày lễ, tết, nghỉ hàng tuần

Lưu ý:

+ NLĐ nghỉ hưởng chế độ trong vòng 30 ngày kể từ ngày vợ sinh con, nếu có nghỉ những ngày trước khi vợ sinh con thì tính là nghỉ không lương, nghỉ phép của NLĐ.

+ Trường hợp NLĐ nam nghỉ nhiều lần thì thời gian bắt đầu nghỉ việc của lần cuối cùng vẫn phải trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con và tổng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không quá thời gian quy định. 

+ Thời gian lao động nam nghỉ khi vợ sinh con mà trùng thời gian nghỉ phép hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương: Không được tính hưởng chế độ thai sản.

- Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, lao động nam được nghỉ với thời gian dài hơn, bao gồm:

+ Trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ. Nếu mẹ tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện hưởng và mẹ chết sau sinh thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

+ Trường hợp cha tham gia BHXH mà không nghỉ việc khi vợ chết sau sinh thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ.

+ Trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

Điều kiện hưởng chế độ thai sản năm 2026 với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng theo Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, theo đó:

(1) Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(1.1) Lao động nữ mang thai;

(1.2) Lao động nữ sinh con;

(1.3) Lao động nữ mang thai hộ;

(1.4) Lao động nữ nhờ mang thai hộ;

(1.5) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

(1.6) Người lao động sử dụng các biện pháp tránh thai mà các biện pháp đó phải được thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

(1.7) Lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có vợ sinh con, vợ mang thai hộ sinh con.

(2) Đối tượng quy định tại các điểm (1.2), (1.3), (1.4) và (1.5) phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.

(3) Đối tượng quy định tại điểm (1.2) và điểm (1.3) đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con.

(4) Đối tượng đủ điều kiện quy định tại (2), (3) và (5) mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 53, 54, 55 và 56 và các khoản 1, 2 và 3 Điều 58 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Thời gian hưởng chế độ thai sản không được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

(5) Đối tượng quy định tại điểm (1.2) đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng liền kề trước khi sinh con đối với trường hợp phải nghỉ việc để điều trị vô sinh.

 

Mỹ Anh (t/h)