Khi chấm dứt quan hệ lao động, người lao động trong một số trường hợp có thể được nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm. Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm là các khoản tiền này có phải chịu thuế thu nhập cá nhân hay không.
Theo quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm các khoản phụ cấp, trợ cấp và thu nhập khác, nhưng loại trừ một số khoản, trong đó có trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Trợ cấp thôi việc, mất việc có tính vào thu nhập chịu thuế?
Quy định cụ thể hơn được nêu tại điểm h khoản 3 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Theo đó, các khoản trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.
Như vậy, nếu người lao động được nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc đúng theo quy định pháp luật lao động thì khoản tiền này không phải cộng vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Đây là điểm người lao động cần lưu ý khi kiểm tra các khoản thanh toán được doanh nghiệp chi trả lúc chấm dứt hợp đồng lao động.
Một điểm đáng chú ý của Nghị định 253/2026/NĐ-CP là quy định đối với trường hợp doanh nghiệp chi trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc cao hơn mức pháp luật quy định.
Cụ thể, nếu tổ chức, doanh nghiệp đã quy định rõ mức trợ cấp cao hơn trong một trong các văn bản như quy chế tài chính, quy chế nội bộ, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động, thì phần thực tế chi trả vượt mức pháp luật cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Chẳng hạn, doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ người lao động khi nghỉ việc ở mức cao hơn quy định và chính sách này đã được ghi nhận cụ thể trong hợp đồng lao động hoặc quy chế của doanh nghiệp thì phần tiền vượt mức vẫn có thể được loại khỏi thu nhập chịu thuế.

Trường hợp nào phần vượt phải chịu thuế?
Không phải mọi khoản tiền doanh nghiệp trả thêm khi người lao động nghỉ việc đều đương nhiên được loại khỏi thu nhập chịu thuế.
Theo nội dung hướng dẫn, nếu khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc được chi cao hơn mức pháp luật quy định nhưng không được ghi nhận cụ thể trong quy chế tài chính, quy chế nội bộ, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động thì phần vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Khoản tiền này được xác định thuộc nhóm thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công để thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
Có thể hiểu ngắn gọn như sau:
-
Trợ cấp thôi việc, mất việc theo đúng quy định pháp luật: không tính thuế TNCN.
-
Trợ cấp cao hơn mức quy định và đã được ghi rõ trong quy chế, hợp đồng hoặc thỏa ước lao động: phần vượt cũng không tính thuế.
-
Trợ cấp cao hơn mức quy định nhưng không có căn cứ được ghi nhận cụ thể trong các văn bản nêu trên: phần vượt được tính vào thu nhập chịu thuế.
Nghị định 253/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 30/6/2026 và có hiệu lực từ 1/7/2026. Riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Do đó, khi thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc, doanh nghiệp và người lao động cần xác định rõ bản chất từng khoản tiền, mức chi và căn cứ được ghi nhận trong hợp đồng, quy chế hoặc thỏa ước lao động để xác định chính xác nghĩa vụ thuế.