Thời hạn nộp tiền thuê đất năm 2026 theo Nghị định 373 và khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung ra sao?

Thời hạn nộp tiền thuê đất năm 2026 theo Nghị định 373 và khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung ra sao?
mien-tien-thue-dat-2007160606-1769389497.jpg
Thời hạn nộp tiền thuê đất năm 2026 theo Nghị định 373 và khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung ra sao?

Thời hạn nộp tiền thuê đất năm 2026 theo Nghị định 373 và khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung ra sao?
Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 373/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 373/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 18 Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định:

Thời hạn nộp tiền thuê đất năm 2026 và khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung cụ thể như sau:

(1) Đối với trường hợp nộp tiền thuê đất hằng năm:

- Thời hạn nộp tiền thuê đất lần đầu: Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất của cơ quan thuế.

- Từ năm thứ hai trở đi, người thuê đất được chọn nộp tiền một lần hoặc hai lần trong năm. Trường hợp người nộp thuế chọn nộp thuế một lần trong năm thì thời hạn nộp thuế là 31 tháng 5. Trường hợp người thuê đất chọn hình thức nộp tiền 2 lần trong năm thì thời hạn nộp thuế cho từng kỳ như sau: kỳ thứ nhất nộp 50% chậm nhất là ngày 31 tháng 5; kỳ thứ hai nộp đủ phần còn lại theo thông báo chậm nhất là ngày 31 tháng 10.

Đối với trường hợp thuê đất mới mà thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất phải nộp của năm đầu tiên sau ngày 31 tháng 10 thì cơ quan thuế ra thông báo nộp tiền thuê đất cho thời gian còn lại của năm.

- Thời hạn nộp tiền thuê đất đối với hồ sơ khai điều chỉnh của người nộp thuế chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền thuê đất.

- Thời hạn nộp tiền thuê đất đối với trường hợp cơ quan thuế thông báo nộp tiền theo văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép gia hạn sử dụng đất trong trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, các trường hợp khác điều chỉnh các yếu tố liên quan đến việc xác định lại số tiền thuê đất phải nộp và xác định khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung đối với thời gian chưa tính tiền thuê đất như sau:

Chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày ban hành Thông báo nộp tiền, người thuê đất phải nộp 50% tổng số tiền phải nộp theo thông báo;

Chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày ban hành Thông báo nộp tiền, người thuê đất phải nộp 50% tổng số tiền phải nộp còn lại theo thông báo.

(2) Đối với trường hợp nộp tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê:

- Thời hạn nộp tiền thuê đất lần đầu, thời hạn nộp khoản tiền người sử dụng đất phải nộp bổ sung đối với thời gian chưa tính tiền thuê đất:

Chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày ban hành Thông báo nộp tiền, người thuê đất phải nộp 50% tổng số tiền phải nộp theo thông báo;

Chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày ban hành Thông báo nộp tiền, người thuê đất phải nộp 50% tổng số tiền phải nộp còn lại theo thông báo.

- Thời hạn nộp tiền thuê đất đối với hồ sơ khai điều chỉnh chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày ban hành thông báo nộp thuế.

*Lưu ý: Nghị định 373/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 14/2/2026.

Theo báo Lao Động, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12.6.2025 Quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.

Theo quy định hiện hành thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 123 Luật Đất đai năm 2024 đã được phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp xã.

Tại khoản 5 Điều 123 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều này không được phân cấp, không được ủy quyền.

Do vậy, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Chủ tịch UBND cấp tỉnh được quy định tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP không được phân cấp, uỷ quyền.

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, hiện nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định của Chính phủ để sửa đổi, bổ sung quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai quy định tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP.

Quy định theo hướng: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, chấp thuận về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án, chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất.

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tình hình thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện đối với các nhiệm vụ quy định tại khoản này cho phù hợp.

Do đó, trước mắt khi Chính phủ chưa ban hành Nghị định để sửa đổi về thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì tiếp tục thực hiện theo thẩm quyền đã được phân cấp, phân quyền, phân định tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12.6.2025 của Chính phủ để tổ chức triển khai thực hiện.

 

Mỹ Anh (t/h)