Từ 18/10/2026, hỗ trợ từ 3.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người tham gia hoạt động ở ấp, khóm theo Nghị quyết 70, cụ thể ra sao?

Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách nghỉ việc do sắp xếp lại ấp khóm.

Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau đã thông qua Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách và người tham gia hoạt động ở ấp, khóm nghỉ việc do địa phương cơ cấu, kiện toàn đội ngũ hoặc do sắp xếp, tổ chức lại ấp, khóm trên địa bàn tỉnh Cà Mau có hiệu lực từ ngày 18/10/2026.

17-1791970913.jpg
Từ 18/10/2026, hỗ trợ từ 3.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người tham gia hoạt động ở ấp, khóm theo Nghị quyết 70, cụ thể ra sao? Ảnh minh họa

Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách và người tham gia hoạt động ở ấp, khóm nghỉ việc do địa phương cơ cấu, kiện toàn đội ngũ hoặc do sắp xếp, tổ chức lại ấp, khóm trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Thời điểm nghỉ việc, thôi đảm nhiệm chức danh từ ngày 08/6/2026 đến trước ngày 31/7/2026:

(1) Chính sách hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm

Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND được hưởng chính sách hỗ trợ như sau:

- Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm chưa đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định về tuổi nghỉ hưu (không bao gồm đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND) thì được hưởng các chế độ sau:

+ Đối với người có dưới 05 năm công tác thì được hưởng các chế độ sau:

Được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với số tháng công tác.

Được hưởng trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác.

Được trợ cấp 03 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tìm việc làm.

Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

+ Đối với người có từ đủ 05 năm công tác trở lên và có tuổi đời còn dưới 05 năm đến tuổi nghỉ hưu thì được hưởng các chế độ sau:

Được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với số tháng nghỉ sớm so với tuổi nghỉ hưu.

Được hưởng trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác.

Được trợ cấp 03 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tìm việc làm.

Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

+ Đối với người có từ đủ 05 năm công tác trở lên và có tuổi đời từ đủ 05 năm trở lên đến tuổi nghỉ hưu thì được hưởng các chế độ sau:

Được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với 60 tháng.

Được hưởng trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác.

Được trợ cấp 03 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tìm việc làm.

Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

- Đối với cán bộ, công chức cấp xã do sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 - 2025 được bố trí sang làm người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm thì được hưởng các chế độ như quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND nhưng tiền lương tháng hiện hưởng để tính trợ cấp là tiền lương tháng liền kề của chức danh cán bộ, công chức cấp xã trước khi được bố trí sang làm người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm.

- Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 135/2020/NĐ-CP hoặc đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động thì được hưởng trợ cấp một lần bằng 15 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng.

- Người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm được hưởng chính sách theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND nếu được bầu cử, tuyển dụng lại vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc bố trí làm người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm trong thời gian 60 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền quyết định cho nghỉ việc thì phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chi trả trợ cấp.

- Những người hoạt động không chuyên trách được tuyển dụng vào làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập nhóm 1, nhóm 2 và hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị sự nghiệp; ký hợp đồng làm việc theo Nghị định 173/2025/NĐ-CP về hợp đồng nhiệm vụ của công chức; ký hợp đồng lao động theo Nghị định 111/2022/NĐ-CP về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập hoặc được tuyển chọn tham gia dân quân thường trực tại Ban Chỉ huy quân sự cấp xã, tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở thì không phải hoàn trả số tiền hỗ trợ đã nhận.

- Mức phụ cấp, tiền lương làm căn cứ tính chính sách hỗ trợ quy định tại Điều 3 Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND là mức phụ cấp, tiền lương của tháng liền kề trước thời điểm người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm nghỉ việc, thôi đảm nhiệm chức danh. Thời gian công tác, thời gian nghỉ sớm và cách xác định tiền lương, phụ cấp thực hiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định 154/2025/NĐ-CP.

(2) Chính sách hỗ trợ đối với người tham gia hoạt động ở ấp, khóm

Người tham gia hoạt động ở ấp, khóm quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND được hưởng chính sách hỗ trợ một lần theo thời gian công tác như sau:

- Thời gian công tác dưới 01 năm: mức hỗ trợ 3.000.000 đồng/người (Ba triệu đồng).

- Thời gian công tác từ 01 năm đến dưới 05 năm: mức hỗ trợ 5.000.000 đồng/người (Năm triệu đồng).

- Thời gian công tác từ 05 năm đến dưới 10 năm: mức hỗ trợ 10.000.000 đồng/người (Mười triệu đồng).

- Thời gian công tác từ 10 năm trở lên: mức hỗ trợ 15.000.000 đồng/người (Mười lăm triệu đồng).

Lưu ý: Nghị quyết 70/2026/NQ-HĐND áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

vietnamese-community-support-under-resolution-70-1791971170.png

Ngoài ra, theo Điều 4 Nghị định 185/2026/NĐ-CP quy định nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 05 năm.

Trong trường hợp cần bảo đảm thống nhất với thời điểm tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do tình huống bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh không thể tổ chức bầu cử đúng thời hạn, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nhưng không quá 06 tháng. Trường hợp phải rút ngắn hoặc kéo dài quá 06 tháng thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

(khoản 3 Điều 4 Nghị định 185/2026/NĐ-CP)

Phương Anh (T/h)