Từ ngày 1/9, áp dụng khung tiền bản quyền mới trong 6 lĩnh vực

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 287/2026/NĐ-CP quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản. 

Nghị định số 287/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 17/7/2026, quy định việc chi trả tiền bản quyền đối với hoạt động sáng tạo tác phẩm sử dụng ngân sách nhà nước và việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.

Việc chi trả tiền bản quyền cho hoạt động sáng tạo được thực hiện thông qua các phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Đối với hoạt động khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan, mức chi trả được xác định bằng thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện và bên khai thác, sử dụng.

ap-dung-khung-tien-ban-quyen-moi-trong-6-linh-vuc-1784772800.png

Bổ sung tiền bản quyền khuyến khích

Nghị định quy định tiền bản quyền khuyến khích đối với tác phẩm dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số; tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống; tác phẩm giao hưởng, opera, ba lê, xiếc; phóng sự điều tra và tác phẩm được thực hiện dưới hình thức phù hợp với người khuyết tật.

Chính sách khuyến khích cũng được áp dụng đối với công dân Việt Nam sáng tạo, nói hoặc viết trực tiếp bằng tiếng nước ngoài; người Kinh sáng tạo bằng tiếng dân tộc thiểu số; người dân tộc thiểu số sáng tạo bằng tiếng của dân tộc thiểu số khác; người sáng tạo trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm.

Trường hợp khai thác quyền tác giả, quyền liên quan do Nhà nước đại diện sở hữu hoặc quản lý có phát sinh lợi nhuận, tác giả và các chức danh sáng tạo có thể được hưởng thêm tiền bản quyền theo thỏa thuận. Tổng mức chi khuyến khích không vượt quá 10% lợi nhuận thu được.

Tác phẩm điện ảnh về trẻ em, dân tộc thiểu số được hưởng thêm 5-10%

Trong lĩnh vực điện ảnh, tiền bản quyền sáng tạo được tính theo tỷ lệ phần trăm trên chi phí sản xuất phim, không bao gồm chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính. Mức chi cụ thể được xác định theo thể loại phim và từng chức danh sáng tạo.

Đối với phim chuyển thể từ tác phẩm văn học, sân khấu hoặc loại hình tương tự, biên kịch chuyển thể được hưởng 70% mức tiền bản quyền của biên kịch tác phẩm cùng thể loại; phần còn lại trả cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm gốc.

Các chức danh sáng tạo phim về trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng thêm từ 5-10% tiền bản quyền. Với những bộ phim có chi phí cao do sử dụng thiết bị, vật liệu đặc biệt hoặc quay ở nước ngoài, tổng tiền bản quyền tối đa không quá hai lần mức áp dụng đối với phim có chi phí sản xuất trung bình.

Tiền bản quyền biểu diễn có thể tính theo doanh thu

Đối với sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn, tiền bản quyền có thể được chi trả theo khung tính bằng mức lương cơ sở hoặc theo tỷ lệ phần trăm doanh thu cuộc biểu diễn.

Theo khung tính trên doanh thu, biên kịch một số loại hình sân khấu được hưởng từ 4,2-6%; đạo diễn, tổng đạo diễn từ 3,5-5%; nhạc sĩ từ 1,4-2%. Tác giả tác phẩm âm nhạc được hưởng từ 4-6% doanh thu cuộc biểu diễn.

Khi biểu diễn tác phẩm trước công chúng mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc quản lý quyền, mức tiền bản quyền không được thấp hơn 2% doanh thu cuộc biểu diễn.

Tác phẩm nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả; tác phẩm giao hưởng, opera, ba lê, xiếc và tác phẩm về trẻ em, dân tộc thiểu số được hưởng thêm 15% tiền bản quyền.

Khai thác tác phẩm báo in, báo điện tử phải trả tối thiểu 20%

Đối với báo in và báo điện tử, tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm được thực hiện theo quy định về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Tiền bản quyền đối với tác phẩm phát thanh, truyền hình được tính trong đơn giá sản xuất nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Khi khai thác, sử dụng tác phẩm báo in hoặc báo điện tử, mức tiền bản quyền được thỏa thuận dựa trên tần suất, thời lượng, vị trí, mục đích, phạm vi, phương tiện sử dụng và doanh thu phát sinh. Mức chi không được thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm.

Đối với tác phẩm phát thanh, truyền hình được khai thác nhưng không có nguồn thu từ tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào, tiền bản quyền bằng 30% khung chi trả theo quy định.

Việc sử dụng tác phẩm báo chí do Nhà nước đại diện sở hữu để tuyên truyền phi thương mại dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải ghi tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm.

bc-6a3405f445ca4-1784772724.jpg
Khai thác tác phẩm báo in, báo điện tử phải trả tối thiểu 20% (ảnh minh họa).

Tiền bản quyền xuất bản tính theo chi phí và số lượng in

Nghị định quy định tỷ lệ tiền bản quyền sử dụng tác phẩm để xuất bản theo từng thể loại. Trong đó, văn xuôi có tỷ lệ từ 8-17%; thơ và kịch bản sân khấu, điện ảnh từ 12-17%; sách nghiên cứu lý luận, từ điển và sách tra cứu từ 12-18%; sách khoa học, công nghệ từ 10-17%; bản đồ từ 7-23%.

Đối với xuất bản phẩm in, tiền bản quyền được tính bằng tỷ lệ phần trăm nhân với giá thành sản xuất và số lượng bản in. Với xuất bản phẩm điện tử, mức chi được tính bằng tỷ lệ phần trăm nhân với giá thành sản xuất và số năm sử dụng.

Ngoài tiền bản quyền, tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả được nhận từ 5-10 bản đối với xuất bản phẩm in; được quyền truy cập, sử dụng xuất bản phẩm điện tử theo thỏa thuận. Những xuất bản phẩm thuộc diện khuyến khích được hưởng thêm từ 10-30% tỷ lệ tiền bản quyền.

Nghị định số 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, đồng thời thay thế Nghị định số 18/2014/NĐ-CP về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP về nhuận bút, thù lao trong điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và nghệ thuật biểu diễn.

Trần Sáng