Theo Thư viện Pháp luật, mới đây, Văn phòng Chủ tịch nước đã công bố 09 Lệnh của Chủ tịch nước về các luật được Quốc hội khóa 16 thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, cụ thể gồm:
- Lệnh số 01/2026/L-CTN về việc công bố Luật Tiếp cận thông tin, Luật số 01/2026/QH16.
- Lệnh số 02/2026/L-CTN về việc công bố Luật Thủ đô, Luật số 02/2026/QH16.
- Lệnh số 03/2026/L-CTN về việc công bố Luật Hộ tịch, Luật số 03/2026/QH16.
- Lệnh số 04/2026/L-CTN về việc công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, Luật số 04/2026/QH16.
- Lệnh số 05/2026/L-CTN về việc công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật trợ giúp pháp lý, Luật số 05/2026/QH16.
- Lệnh số 06/2026/L-CTN về việc công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi đua, khen thưởng, Luật số 06/2026/QH16.
- Lệnh số 07/2026/L-CTN về việc công bố Luật Tín ngưỡng tôn giáo, Luật số 07/2026/QH16.
- Lệnh số 08/2026/L-CTN về việc công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, Luật số 08/2026/QH16.
- Lệnh số 09/2026/L-CTN về việc công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Thuế giá trị gia tăng, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật số 09/2026/QH16.

Tạo đột phá để Hà Nội phát triển trong kỷ nguyên mới
Theo thông tin từ báo Chính phủ, Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 9 chương, 36 điều, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026; được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng, thúc đẩy Hà Nội phát triển xứng tầm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước.
Đáng chú ý, Luật sửa đổi các quy định theo hướng phân quyền triệt để, toàn diện cho chính quyền thành phố được quy định, quyết định những nội dung thuộc thẩm quyền trong các lĩnh vực nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền thành phố như: tổ chức, bộ máy; thu, chi ngân sách, đặc biệt là các quy định tạo điều kiện thu hút nguồn lực cho Thủ đô phát triển; thực hiện quy hoạch, chỉnh trang, tái thiết đô thị; quản lý, sử dụng tài nguyên; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; phát triển, liên kết vùng Thủ đô; phát triển y tế, văn hóa; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong đó có việc áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 gồm 4 chương và 31 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/9/2026; nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"...
Đáng chú ý, Luật điều chỉnh phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của chính quyền địa phương phù hợp với thực tiễn và mô hình tổ chức mới sau sắp xếp; mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai; thông qua việc bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp; phân định rõ ràng phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, không được tiếp cận và được tiếp cận có điều kiện, bảo đảm sự hài hòa giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh quốc gia và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đa dạng hình thức công khai, cung cấp thông tin, khuyến khích áp dụng phương thức điện tử nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trên môi trường số...
Với 4 chương, 30 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027, Luật Hộ tịch (sửa đổi) có nhiều đổi mới căn bản cả về tư duy lập pháp, mô hình quản lý và phương thức tổ chức thực hiện.
Nổi bật, Luật đã phân quyền triệt để, gắn với nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, thẩm quyền đăng ký tất cả các sự kiện, thông tin hộ tịch trong nước được giao cho UBND cấp xã. Người dân được quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch tại bất kỳ UBND cấp xã nào, không phụ thuộc nơi cư trú, địa giới hành chính.
Luật quy định đẩy mạnh số hóa dữ liệu hộ tịch và xác lập giá trị pháp lý của dữ liệu hộ tịch điện tử, xác định nguyên tắc "người dân chỉ cung cấp thông tin một lần", các cơ quan nhà nước có trách nhiệm khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu đã có để giải quyết thủ tục hành chính, thay vì yêu cầu người dân cung cấp nhiều loại giấy tờ như trước đây.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) gồm 9 chương, 61 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027; được ban hành nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài gồm 2 điều, có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2026.
Đáng chú ý, cùng với việc bổ sung phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Luật đã kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và tăng cường tính chuyên nghiệp, hiện đại; đẩy mạnh phân quyền, phân cấp trong công tác quản lý của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; chế độ, chính sách đối với thành viên cơ quan đại diện và thân nhân cũng như một số nội dung khác nhằm khắc phục mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với quy định pháp luật chuyên ngành hiện hành và một số nội dung cần quy định rõ hơn tại Luật…
Tạo động lực phát triển cho cá nhân, doanh nghiệp
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đã được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 24/4/2026 tại Kỳ họp thứ nhất và có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.
Luật gồm 5 điều; được ban hành nhằm hoàn thiện quy định về chính sách thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp quy mô nhỏ nhằm khuyến khích, tạo động lực phát triển cho cá nhân, doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế...
Để hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là những hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp có quy mô nhỏ, đồng thời đảm bảo công bằng trong chính sách thuế thu nhập giữa hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp quy mô nhỏ, khuyến khích hộ, cá nhân chuyển lên doanh nghiệp; trên cơ sở đánh giá tác động (cân đối giữa tác động giảm thu ngân sách với việc tạo điều kiện hỗ trợ kinh doanh có nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định tâm lý xã hội), Luật đã sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân kinh doanh tại Luật, bổ sung mức doanh thu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và giao Chính phủ căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách để quy định mức doanh thu phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Đơn giản hóa thủ tục công chứng
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng gồm 3 điều; có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.
Đáng chú ý, Luật sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng...
Luật sửa đổi một số quy định về thủ tục công chứng và hồ sơ công chứng theo hướng đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng, nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của mô hình công chứng nội dung.
Đồng thời, Luật cũng sửa đổi khoản 3 Điều 68 của Luật Công chứng năm 2024 theo hướng cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện xác minh, giám định tài liệu phục vụ việc tiến hành tố tụng, đồng thời có quy định nhằm bảo đảm gốc văn bản công chứng được bảo quản chặt chẽ, bàn giao lại đầy đủ và không ảnh hưởng quá lớn đến quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu công chứng trong việc yêu cầu cấp bản sao hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng...
Cũng có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý có 3 điều.
Với việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện thể chế, tăng cường phân cấp, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đẩy mạnh chuyển đổi số, Luật đã tạo lập một nền tảng pháp lý đồng bộ, hiện đại và linh hoạt hơn cho hoạt động trợ giúp pháp lý trong giai đoạn mới.
Luật đã mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý khi bỏ điều kiện "có khó khăn về tài chính" đối với các nhóm đối tượng: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật. Người thuộc hộ cận nghèo; người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV..