Theo thông tin từ Công an TP Đà Nẵng, Phòng Cảnh sát hình sự, Công an TP Đà Nẵng vừa ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Võ Ngọc Tường Duy (sinh năm 1984), trú phường Hưng Phú, TP Cần Thơ để điều tra về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Trước đó, Phòng Cảnh sát hình sự tiếp nhận đơn tố giác tội phạm của chị N.T.H (sinh năm 1990), trú phường An Hải, TP Đà Nẵng về việc bị Võ Ngọc Tường Duy lợi dụng quan hệ tình cảm để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, lãnh đạo Phòng Cảnh sát hình sự đã phân công CBCS khẩn trương xác minh, làm rõ.
Sau thời gian triển khai các biện pháp nghiệp vụ, Phòng Cảnh sát hình sự xác định: Khoảng tháng 9/2019, trong thời gian làm việc tại Trung tâm thương mại V. tại Đà Nẵng, chị N.T.H quen biết Võ Ngọc Tường Duy, khi đó là Trưởng bộ phận An ninh tại Trung tâm thương mại này và nảy sinh quan hệ tình cảm. Đến tháng 6/2020, Duy được điều chuyển công tác về Trung tâm thương mại V. có chi nhánh tại TP Cần Thơ và tiếp tục duy trì mối quan hệ với chị H.
Đối tượng Võ Ngọc Tường Duy tại cơ quan công an. Ảnh: Công an TP Đà Nẵng.
Lợi dụng tình cảm và sự tin tưởng của bị hại, Võ Ngọc Tường Duy đã đưa ra thông tin gian dối và rủ người yêu góp vốn đầu tư mua đất tại khu vực Cần Thơ và Tây Ninh nhằm kinh doanh, xây dựng tương lai lâu dài. Tin lời đối tượng, trong thời gian từ ngày 11/8/2020 đến ngày 16/11/2020, chị N.T.H đã 8 lần chuyển khoản cho Võ Ngọc Tường Duy với tổng số tiền 1.997.300.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, đối tượng không thực hiện việc đầu tư như đã cam kết mà sử dụng toàn bộ số tiền trên để trả nợ và phục vụ mục đích cá nhân.
Tại Cơ quan Công an, Võ Ngọc Tường Duy đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP Đà Nẵng đang tiếp tục củng cố hồ sơ, mở rộng điều tra và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Các khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự
* Khung 1
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
* Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
* Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
* Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
* Hình phạt bổ sung
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
(Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017))