Theo Cổng TTĐT Công an thành phố Hải Phòng: Ngày 05/01/2026, Công an phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng tiếp nhận đơn trình báo của công dân chị T.T.T.T, trú tại phường Trần Nhân Tông, thành phố Hải Phòng, về việc bị một đối tượng sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook mang tên “Nguyễn Long” có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua không gian mạng.

Đối tượng Nguyễn Văn Hoàng Long và chứng cứ

Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Công an phường Chu Văn An đã phối hợp với các đơn vị chức năng tiến hành xác minh, làm rõ nội dung vụ việc.
Qua xác minh, xác định đối tượng là Nguyễn Văn Hoàng Long, sinh năm 2001, trú tại thành phố Hà Nội. Tại cơ quan Công an, đối tượng Nguyễn Văn Hoàng Long khai nhận: từ năm 2024, đối tượng sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Nguyễn Long” tham gia các nhóm “hẹn hò” trên mạng xã hội để làm quen với phụ nữ, sau đó tạo dựng mối quan hệ tình cảm, đưa ra các thông tin gian dối, trong đó có việc tự giới thiệu bản thân có quốc tịch Mỹ, có mối quan hệ với Đại sứ quán Mỹ, nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt tiền và tài sản của bị hại.
Quá trình điều tra xác định, trong thời gian từ tháng 02/2025 đến tháng 12/2025, đối tượng đã nhiều lần lừa bị hại chuyển tiền qua ví điện tử với tổng số tiền trên 53 triệu đồng; đồng thời mượn 01 xe mô tô của bị hại mang đi bán và tiếp tục chiếm đoạt tiền mặt. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt ước tính khoảng 61,8 triệu đồng.
Hiện vụ việc đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng tiếp tục điều tra mở rộng, xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo thông tin tham khảo trên Thư viện pháp luật:
1. Xử phạt hành chính hành vi lừa đảo thế nào?
Căn cứ theo theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.
2. Trách nhiệm hình sự với hành vi lừa đảo
Căn cứ theo Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
+ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
- Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với một trong các trường hợp:
+ Có tổ chức;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
+ Tái phạm nguy hiểm;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với một trong các trường hợp:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự;
+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
- Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân đối với một trong các trường hợp:
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự;
+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.