Bộ Nội vụ hiện đang trình Chính phủ một dự thảo Nghị định quy định về mức lương tối thiểu áp dụng cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Dù văn bản này vẫn chưa được thông qua, nhưng trong nội dung dự thảo có đề xuất thời điểm nghị định bắt đầu có hiệu lực là từ ngày 01/01/2027.
Dự thảo đưa ra phương án tăng mức lương tối thiểu bình quân khoảng 7,8%, dự kiến áp dụng từ ngày 01/01/2027. Tuy vậy, đây vẫn chưa phải quy định chính thức và các nội dung trong dự thảo có thể tiếp tục được điều chỉnh trước khi Chính phủ ban hành.
Dự kiến lương tối thiểu tháng cao nhất tăng lên 5,7 triệu đồng
Theo dự thảo, mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ tại 4 vùng được đề xuất như sau:
Vùng I: tăng từ 5.310.000 đồng lên 5.700.000 đồng/tháng; mức lương tối thiểu giờ là 27.400 đồng.
Vùng II: tăng từ 4.730.000 đồng lên 5.080.000 đồng/tháng; mức lương tối thiểu giờ là 24.400 đồng.
Vùng III: tăng từ 4.140.000 đồng lên 4.450.000 đồng/tháng; mức lương tối thiểu giờ là 21.400 đồng.
Vùng IV: tăng từ 3.700.000 đồng lên 4.040.000 đồng/tháng; mức lương tối thiểu giờ là 19.400 đồng.
Theo đó, hiện nay NLĐ tại vùng 4 đang được áp dụng mức lương tối thiểu 3.700.000 đồng/tháng. Tuy nhiên từ 01/01/2027 nếu Dự thảo Nghị định có hiệu lực thì NLĐ tại vùng 4 sẽ được áp dụng mức lương tối thiểu 4.040.000 đồng/tháng.
Như vậy, từ 01/01/2027 sẽ thay thế mức lương tối thiểu 3.700.000 đồng/tháng lên 4.040.000 đồng/tháng (tăng 9,2%) cho toàn bộ NLĐ làm việc tại vùng 4.

Từ 10/9/2026, doanh nghiệp có hành vi vi phạm nào về tiền lương sẽ bị phạt như thế nào và biện pháp khắc phục?
Theo Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 10/9/2026) quy định mức phạt hành vi vi phạm quy định về tiền lương của người sử dụng lao động như sau:
(1) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
- Không công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện: thang lương, bảng lương; mức lao động; quy chế thưởng;
- Không xây dựng thang lương, bảng lương hoặc định mức lao động; không áp dụng thử mức lao động trước khi ban hành chính thức;
- Không tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương; định mức lao động; quy chế thưởng;
- Không thông báo bảng kê trả lương hoặc có thông báo bảng kê trả lương cho người lao động nhưng không đúng theo quy định;
- Không trả lương bình đẳng hoặc phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.
(2) Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm; không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động theo một trong các mức sau đây:

- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
(3) Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:
- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.
(4) Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có hành vi không trả hoặc trả không đủ cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:
- Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
(5) Biện pháp khắc phục hậu quả
- Buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP
- Buộc người sử dụng lao động trả đủ khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cộng với khoản tiền lãi của số tiền đó tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
Lưu ý: Theo Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân, trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt gấp 2 lần cá nhân.