Người từ 60 tuổi trở lên nhận 2,2 triệu/tháng và 2,8 triệu đồng/tháng khi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo
Theo Thư viện pháp luật, xét Tờ trình số 98/TTr-UBND ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ một số thành viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo trên địa bàn giai đoạn 2026 - 2030; Báo cáo thẩm tra của Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng nhân dân thành phố; ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp;
Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ một số thành viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030.

Người từ 60 tuổi trở lên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo được cấp có thẩm quyền công nhận từ năm 2025 đến năm 2030 không có thu nhập hằng tháng (tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng và các khoản trợ cấp khác từ ngân sách nhà nước) thuộc một trong các trường hợp sau:
- Không có vợ, chồng, con (bao gồm cả các trường hợp: có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn; có vợ, chồng, con nhưng những người này đã chết, mất tích theo quy định của pháp luật).
- Có vợ hoặc chồng và không có con (bao gồm cả trường hợp có con nhưng con đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật).
- Có vợ, chồng, con nhưng những người này thuộc một trong các trường hợp: đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng hằng tháng tại cộng đồng; đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội; đang chấp hành án phạt tù tại trại giam; đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; con dưới 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi đến không quá 22 tuổi đang trong thời gian học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất; thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d khoản này.
Hỗ trợ thu nhập hằng tháng: Từ năm 2027 đến năm 2030 là 2.800.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị (phường) và 2.200.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn (xã và đặc khu)
Người cao tuổi cần đáp ứng điều kiện gì để được hưởng lương hưu hằng tháng?
Khi nghỉ việc phải có thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên và thuộc một trong các trường hợp:
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động (lộ trình tăng dần đến 62 tuổi với nam, 60 tuổi với nữ);

- Đủ tuổi theo khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 và có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu thông thường và có từ đủ 15 năm làm khai thác than trong hầm lò;
- Bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Trường hợp nghỉ hưu sớm do suy giảm khả năng lao động (Điều 65), khi nghỉ việc có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên và thuộc một trong các trường hợp:
- Có tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu thông thường và suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%;
- Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi và suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
- Có từ đủ 15 năm làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
(Điều 64, Điều 65 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Lưu ý quan trọng: Trường hợp thời gian đóng BHXH bắt buộc còn thiếu tối đa 06 tháng để đủ điều kiện hưởng lương hưu, người lao động được đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu (khoản 7 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).
Người cao tuổi cần đáp ứng điều kiện gì để được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng?
Công dân Việt Nam được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng khi đáp ứng đủ ba điều kiện:
- Từ đủ 75 tuổi trở lên;
- Không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trừ trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;
- Có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Công dân Việt Nam từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đáp ứng đủ điều kiện về việc không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng và có văn bản đề nghị cũng được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.