Thư viện và pháp luật cho hay, theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 69/2025/NQ-HĐND như sau:
Mức hỗ trợ
1. Hỗ trợ một phần sinh hoạt phí
a) Công chức, viên chức thuộc biên chế được giao của Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh; công chức, viên chức thuộc các cơ quan chuyên môn (kể cả cơ quan ngành dọc trung ương); sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân; người lao động thuộc các doanh nghiệp nhà nước có thủ tục hành chính được cơ quan có thẩm quyền cử đến làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh được hưởng mức hỗ trợ 1.000.000 đồng/người/tháng.
b) Công chức làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã Tà Tổng và xã Mù Cả được hưởng mức hỗ trợ 700.000 đồng/người/tháng.
2. Hỗ trợ may trang phục
Hỗ trợ may trang phục cho các đối tượng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị quyết này là 3.000.000 đồng/người/năm (bao gồm quần áo xuân hè và thu đông). Mức hỗ trợ này không áp dụng cho các đối tượng đã được cấp trang phục riêng của ngành.
Theo đó, hỗ trợ 1.000.000 đồng/người/tháng chi phí sinh hoạt cho Công chức viên chức thuộc biên chế được giao của Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh; Công chức viên chức thuộc các cơ quan chuyên môn; Người lao động thuộc các doanh nghiệp nhà nước có thủ tục hành chính được cơ quan có thẩm quyền cử đến làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Lai Châu.
Lưu ý: Nghị quyết 69/2025/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ cho công chức viên chức, người lao động và sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp, bộ phận một cửa trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Theo báo Dân trí, Thông tư số 01/2026/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định rõ về việc xếp lương đối với người chưa hưởng bảng lương do nhà nước quy định. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/3.
Cụ thể, với trường hợp có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đúng quy định của pháp luật thì việc xếp lương ở ngạch công chức tương ứng vị trí việc làm được tuyển dụng theo bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP sẽ quy định thành hai nhóm:
Thứ nhất, Bộ Nội vụ quy định xếp lương với trường hợp tuyển dụng vào vị trí việc làm xếp lương ở ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương, chuyên viên chính và tương đương có yêu cầu về thời gian kinh nghiệm công tác.
Ở nhóm này, căn cứ vào tổng thời gian công tác được cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng xác định phù hợp với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm xếp lương ở ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương, chuyên viên chính và tương đương, sau khi trừ số thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tương ứng với số thời gian kinh nghiệm công tác theo quy định của vị trí việc làm tuyển dụng.
Đồng thời, thời gian còn lại làm căn cứ để xếp lương ở ngạch công chức tương ứng theo vị trí việc làm được tuyển dụng sẽ tính từ bậc 1, sau mỗi khoảng thời gian 3 năm (đủ 36 tháng) được xếp lên 1 bậc lương.
Sau khi quy đổi thời gian để xếp vào bậc lương, nếu có số tháng chưa đủ 36 tháng thì số tháng này được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương lần sau hoặc xét hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).
Thứ hai là xếp lương với người tuyển dụng vào vị trí việc làm xếp lương ở ngạch chuyên viên và tương đương, cán sự và tương đương, nhân viên.
Căn cứ vào tổng thời gian công tác được cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng xác định phù hợp với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm được tuyển dụng, tính từ bậc 1, sau mỗi khoảng thời gian 3 năm (đủ 36 tháng) đối với trường hợp tuyển dụng vào vị trí việc làm xếp lương ở ngạch chuyên viên và tương đương, cán sự và tương đương hoặc sau mỗi khoảng thời gian 2 năm (đủ 24 tháng) đối với trường hợp tuyển dụng vào vị trí việc làm xếp lương ở ngạch nhân viên được xếp lên 1 bậc lương.
Sau khi quy đổi thời gian để xếp vào bậc lương, nếu có số tháng chưa đủ 36 tháng (đối với trường hợp tuyển dụng vào vị trí việc làm xếp lương ở ngạch chuyên viên và tương đương, cán sự và tương đương) hoặc chưa đủ 24 tháng (đối với trường hợp tuyển dụng vào vị trí việc làm xếp lương ở ngạch nhân viên) thì số tháng này được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương lần sau hoặc xét hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).