Khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Lê Duy Dũng, đối tượng chiếm đoạt 2,7 tỷ đồng bằng chiêu lừa người quen góp vốn mua đất

Sau khi nhận tiền góp vốn từ ông V., Dũng không thực hiện việc mua bán như thỏa thuận mà sử dụng toàn bộ số tiền vào mục đích cá nhân.

Theo Công an TP Đà Nẵng, do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Lê Duy Dũng (sinh năm 1973), trú tại nhà D, chung cư Bạch Đằng Đông, phường Sơn Trà, TP. Đà Nẵng đã rủ anh N.T.V (sinh năm 1991), trú đường Phạm Cự Lượng, TP. Đà Nẵng cùng góp vốn mua một thửa đất số 253 (tạm) thuộc tổ 183, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà (cũ), với giá 800 triệu đồng. Đáng chú ý, đây là thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận tiền góp vốn từ ông V., Dũng không thực hiện việc mua bán như thỏa thuận mà sử dụng toàn bộ số tiền vào mục đích cá nhân.

1-1775562487.jpg
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Đà Nẵng tống đạt các quyết định đối với Nguyễn Lê Duy Dũng (áo đỏ). Ảnh: Công an TP Đà Nẵng

Không dừng lại ở đó, đến tháng 8/2019, Dũng tiếp tục đưa ra thông tin gian dối, đề nghị bán lại phần góp vốn của mình cho ông V. với giá 1,2 tỷ đồng. Tiếp đến, ngày 24/10/2019, Dũng cam kết sẽ đứng ra làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất nêu trên với tổng giá trị 1,3 tỷ đồng và hứa trong vòng 2 tháng sẽ bàn giao giấy chứng nhận cho ông V.

Tin tưởng vào lời nói của Dũng, trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2020, ông V. đã nhiều lần giao tiền cho Dũng với tổng số tiền 1,1 tỷ đồng để Dũng thực hiện việc làm sổ đỏ. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, Dũng tiếp tục sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân và không thực hiện bất kỳ cam kết nào. Tổng số tiền Dũng đã chiếm đoạt của V. là 2,7 tỷ đồng.

Ngày 07/4/2026, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát đã tống đạt các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Lê Duy Dũng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 4, Điều 174 Bộ luật hình sự.

Vụ việc là bài học cảnh giác cho người dân khi tham gia các giao dịch góp vốn, mua bán bất động sản chưa đầy đủ pháp lý, đồng thời cho thấy thủ đoạn tinh vi của các đối tượng lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản. Cơ quan chức năng khuyến cáo người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin pháp lý của tài sản, thực hiện giao dịch qua hợp đồng rõ ràng và có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nhằm tránh rủi ro đáng tiếc.

Các khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự

* Khung 1

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

-  Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

* Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

- Có tổ chức;

- Có tính chất chuyên nghiệp;

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

- Tái phạm nguy hiểm;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

* Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

* Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

* Hình phạt bổ sung

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

(Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017))

 

Phương Anh (T/h)