Căn cứ Điều 67 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau:
Điều chỉnh lương hưu
1. Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội.
2. Điều chỉnh mức tăng lương hưu thỏa đáng đối với đối tượng có mức lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995 bảo đảm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ.
3. Chính phủ quy định thời điểm, đối tượng, mức điều chỉnh lương hưu quy định tại Điều này.
Như vậy, Quốc hội giao Chính phủ tăng lương hưu cho người lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995 cần bảo đảm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ.
Căn cứ Điều 148 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
Người lao động cao tuổi
1. Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật này.
2. Người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
3. Nhà nước khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi làm việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm quyền lao động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Dẫn chiếu khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:
Tuổi nghỉ hưu
...
2. Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của người lao động được thực hiện theo bảng dưới đây:

Theo đó, vào năm 2026, độ tuổi nghỉ hưu của lao động nam là 61 tuổi 6 tháng và lao động nữ là 57 tuổi.
Lưu ý: Độ tuổi này áp dụng đối với người lao động trong điều kiện lao động bình thường. Đồng thời, lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu mỗi năm như trên chỉ áp dụng cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Báo An ninh Thủ đô đưa tin, Sở Nội vụ Hà Nội cho biết, trên cơ sở báo cáo của hơn 3.000 doanh nghiệp trên địa bàn cơ quan này đã cập nhật tình hình tiền lương năm 2025 của các khối doanh nghiệp.
Cụ thể như sau, đối với công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: tiền lương bình quân của người lao động là 9.200.000 đồng/người/tháng. Trong đó, doanh nghiệp có tiền lương cao nhất là 46.500.000 đồng/người/tháng; doanh nghiệp có mức tiền lương thấp nhất là 6.500.000 đồng/người/tháng.
Khối công ty cổ phần có vốn góp chi phối của Nhà nước có tiền lương bình quân của người lao động là 9.100.000 đồng/người/tháng. Xét theo biên độ, doanh nghiệp có mức tiền lương cao nhất là 45.000.000 đồng/người/tháng; doanh nghiệp có tiền lương thấp nhất là 6.600.000 đồng/người/tháng.
Đối với khối doanh nghiệp dân doanh có tiền lương bình quân của người lao động là 8.700.000 đồng/người/tháng. Ở khối này, doanh nghiệp có tiền lương cao nhất đạt 230.000.000 đồng/người/tháng; doanh nghiệp có mức tiền lương thấp nhất là 6.500.000 đồng/người/tháng.
Với khối doanh nghiệp FDI, tiền lương bình quân của người lao động là 9.300.000 đồng/người/tháng. Theo đó, doanh nghiệp có mức tiền lương cao nhất là 225.000.000 đồng/người/tháng; doanh nghiệp có tiền lương thấp nhất là 5.500.000 đồng/người/tháng.
Báo cáo của các doanh nghiệp cho thấy, doanh nghiệp FDI chiếm ưu thế về mức lương bình quân, song sự phân hóa thu nhập mạnh mẽ nhất lại ở doanh nghiệp khối dân doanh.