Báo Dân Việt cho biết, theo Luật Dân số 2025 vừa được thông qua ngày 10/12/2025, phụ nữ sinh con thứ 2 sẽ được nghỉ thai sản 7 tháng từ 1/7/2026. Quy định cụ thể về trợ cấp thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024.
Tại Điều 14 Dự thảo Luật Dân số 2025 quy định một số nội dung nhằm duy trì mức sinh thay thế. Trong đó có quy định: "Trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 7 tháng; lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con".
Ngoài ra còn một loạt các quy định khác có lợi cho người lao động, ví dụ như: Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi; Ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở đối với người có từ 02 con đẻ trở lên;
Theo Thư viện pháp luật,
Căn cứ Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định cụ thể như sau:
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai
1. Lao động nữ mang thai được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản để đi khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày.
2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Theo đó, lao động nữ được nghỉ khám thai tối đa 5 lần. Mỗi lần không quá 02 ngày.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Người lao động được hoàn bao nhiêu phần trăm khi đi khám thai theo bảo hiểm thai sản? (Hình từ Internet)
Người lao động được hoàn bao nhiêu phần trăm khi đi khám thai theo bảo hiểm thai sản?
Căn cứ theo Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau:
Trợ cấp thai sản
1. Trợ cấp thai sản một tháng của người lao động quy định tại các điều 51, 52, 53, 54, 55, 56 và 57 của Luật này bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ 06 tháng thì trợ cấp thai sản của người lao động quy định tại Điều 51, Điều 52, các khoản 2, 5, 6 và 7 Điều 53, các khoản 1, 2 và 4 Điều 54, khoản 2 Điều 55 và Điều 57 của Luật này là mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của các tháng đã đóng.
2. Trợ cấp thai sản một ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 51 và khoản 2 Điều 53 của Luật này được tính bằng trợ cấp thai sản một tháng chia cho 24 ngày.
3. Trợ cấp thai sản khi sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được tính theo mức trợ cấp thai sản quy định tại khoản 1 Điều này, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 52 và Điều 57 của Luật này thì mức trợ cấp mỗi ngày được tính bằng mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 30 ngày.
4. Trợ cấp thai sản của lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này và được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều này trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ.
5. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc tính, việc xác định điều kiện đối với từng trường hợp hưởng chế độ thai sản.
Theo đó, chế độ khám thai quy định người lao động sẽ không được hoàn tiền khám thai mà sẽ được tính hưởng thai sản theo mức như sau:
Mức hưởng khám thai = [(100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản) / 24] x Số ngày nghỉ khám thai
* Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ 06 tháng
Mức hưởng khám thai = [( 100% mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội) / 24] x Số ngày nghỉ khám thai.