Người lao động được lợi hơn thế nào đối với việc khấu trừ thuế TNCN 10% giữa mức 2 triệu và mức 3 triệu theo đề xuất?

So sánh việc khấu trừ thuế TNCN 10% giữa mức 2 triệu và mức 3 triệu theo đề xuất, người lao động được lợi hơn thế nào?

Theo Thư viện Pháp luật, ngày 27/03/2026, Bộ Tài chính đã công bố và lấy ý kiến Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.

Dự thảo đã điều chỉnh mức thu nhập vãng lai làm căn cứ tạm khấu trừ thuế, cụ thể tại khoản 2 Điều 50 Dự thảo có đề xuất: Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng mà có mức thu nhập từ 3 triệu đồng/lần trở lên, thì phải thực hiện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trước khi chi trả.

Mức này được điều chỉnh tăng từ 2 triệu đồng/lần lên 3 triệu đồng/lần, thay thế cho quy định hiện hành tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Việc nâng ngưỡng khấu trừ 10% thuế TNCN đối với thu nhập vãng lai từ 2 triệu lên 3 triệu đồng/lần tác động trực tiếp ở nhóm thu nhập từ trên 2 triệu đến dưới 3 triệu đồng.

10-1775440354.jpg
Người lao động được lợi hơn thế nào đối với việc khấu trừ thuế TNCN 10% giữa mức 2 triệu và mức 3 triệu theo đề xuất? Ảnh minh họa

Với giả định không làm cam kết và áp dụng thuế suất khấu trừ 10%, các khoản thu nhập dưới 2 triệu vốn đã không bị khấu trừ nên không thay đổi, trong khi các khoản từ 3 triệu đồng trở lên vẫn bị khấu trừ như cũ.

Điểm khác biệt nằm ở “khoảng giữa” từ trên 2 triệu đến dưới 3 triệu: trước đây bị khấu trừ 10%, nhưng theo đề xuất mới sẽ không còn bị trừ, giúp người lao động nhận đủ thu nhập.

Dưới đây là bảng so sánh trực quan giữa ngưỡng 2 triệu (hiện hành) và 3 triệu (đề xuất) theo từng mức thu nhập:

Thu nhập/lần

Mức 2 triệu

Mức 3 triệu

Chênh lệch thực tế

1,8 triệu

Không bị trừ

Không bị trừ

= 0

2,0 triệu

Không bị trừ

Không bị trừ

= 0

2,2 triệu

Bị trừ 220k

(Cần làm cam kết để không bị trừ)

Không bị trừ

+220k

2,5 triệu

Bị trừ 250k

(Cần làm cam kết để không bị trừ)

Không bị trừ

+250k

2,8 triệu

Bị trừ 280k

(Cần làm cam kết để không bị trừ)

Không bị trừ

+280k

3,0 triệu

Bị trừ 300k

(Cần làm cam kết để không bị trừ)

Bị trừ 300k

(Cần làm cam kết để không bị trừ)

= 0

4,0 triệu

Bị trừ 400k

(Cần làm cam kết để không bị trừ)

Bị trừ 400k

(Cần làm cam kết để không bị trừ)

= 0

Hiện tại, chỉ cần thu nhập từ 2 triệu đồng/lần là đã bị khấu trừ 10%, nên nhiều người dù thu nhập thấp vẫn bị trừ thuế trước, sau đó phải làm cam kết hoặc quyết toán để hoàn lại. Với đề xuất mới, ngưỡng này được nâng lên 3 triệu đồng, đồng nghĩa với việc các khoản thu nhập từ 2 đến dưới 3 triệu đồng/lần sẽ không còn bị khấu trừ ngay từ đầu, giúp người lao động giữ lại đầy đủ số tiền nhận được.

Xét về lợi ích thực tế, người lao động tăng thu nhập thực nhận ngay lập tức. Ví dụ, với khoản thu nhập 2,5 triệu đồng/lần: trước đây sẽ bị trừ 250.000 đồng (10%), nhưng theo đề xuất mới sẽ được nhận đủ 2,5 triệu đồng. Ngoài ra, người lao động cũng không cần làm cam kết để tránh bị khấu trừ như trước, từ đó giảm bớt thủ tục giấy tờ và rủi ro sai sót.

Quan trọng hơn, quy định mới giúp loại bỏ tình trạng “bị trừ rồi đi hoàn” đối với nhóm thu nhập thấp. Về nguyên tắc, số thuế bị trừ này có thể được hoàn lại khi quyết toán thuế, nhưng trên thực tế nhiều người không thực hiện quyết toán nên bị mất tiền thật. Do đó, thay vì phải chờ đến cuối năm để quyết toán hoàn thuế, người lao động được hưởng lợi ngay tại thời điểm nhận thu nhập.

Tóm lại, so với mức 2 triệu trước đây, việc nâng lên 3 triệu không làm thay đổi nghĩa vụ thuế nhưng sẽ giúp người lao động ít bị khấu trừ hơn, nhận đủ tiền sớm hơn và giảm đáng kể thủ tục hành chính, đặc biệt có lợi cho lao động thời vụ, thử việc và freelancer có thu nhập nhỏ, không ổn định.

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP quy định như sau:

Nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ

...

2. Khi khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, khi thu thuế, phí, lệ phí, tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, tổ chức thu thuế, phí, lệ phí phải lập chứng từ khấu trừ thuế, biên lai thu thuế, phí, lệ phí giao cho người có thu nhập bị khấu trừ thuế, người nộp thuế, nộp phí, lệ phí và phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 32 Nghị định này. Trường hợp sử dụng chứng từ điện tử thì phải theo định dạng chuẩn dữ liệu của cơ quan thuế. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập cấp chứng từ khấu trừ thuế cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc cấp một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một năm tính thuế khi cá nhân yêu cầu. Đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ cấp cho cá nhân một chứng từ khấu trừ thuế trong một năm tính thuế.

...

Theo đó, đối với cá nhân ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập cấp chứng từ khấu trừ thuế cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc cấp một chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một năm tính thuế khi cá nhân yêu cầu.

Phương Anh (T/h)