Theo Cổng thông tin điện tử Công an tỉnh Ninh Bình, ngày 12/3/2026, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh cho biết: Sau một thời gian xác minh, tuyên truyền, vận động, ngày 9/3/2026, Trần Văn Toàn, sinh ngày năm 1980; có hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố Lộng Đồng, phường Trường Thi, tỉnh Ninh Bình đã đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh (Phòng Cảnh sát kinh tế) đầu thú để hưởng lượng khoan hồng của pháp luật. Đây là nỗ lực, kết quả quan trọng của đơn vị trong thực hiện đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo đảm ANTT, phục vụ Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031 và các sự kiện chính trị-xã hội quan trọng khác.
Trước đó, năm 2008, lợi dụng việc được giao trách nhiệm thu tiền cho Công ty TNHH dịch vụ dầu khí Nam Định, Trần Văn Toàn đã chiếm đoạt số tiền hơn 900 triệu đồng rồi bỏ trốn. Hành vi của Trần Văn Toàn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình) ra Quyết định khởi tố bị can về hành vi phạm tội “tham ô tài sản”, theo quy định tại Điều 278 Bộ Luật hình sự năm 1999 và ra Quyết định truy nã đối với Toàn.
Để truy bắt đối tượng truy nã đặc biệt nguy hiểm Trần Văn Toàn, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Ninh Bình đã triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, cùng với việc tập trung xác minh, truy xét quyết liệt, rộng rãi, đơn vị còn chủ động gặp gỡ, vận động người thân trong gia đình, phân tích cho đối tượng hiểu rõ chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người ra đầu thú, thành khẩn khai báo.
Với tinh thần trách nhiệm cao, kiên trì tuyên truyền, vận động, sau nhiều năm lẩn trốn tại các địa bàn, nhận thức được sai phạm của bản thân cũng như trước sự vận động, động viên của gia đình và lực lượng Công an, Trần Văn Toàn đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đầu thú.
Việc xác minh, tuyên truyền, vận động thành công Trần Văn Toàn ra đầu thú không chỉ thể hiện sự nỗ lực, tinh thần kiên quyết tấn công tội phạm của lực lượng Công an mà còn khẳng định tính nhân văn trong chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đã thúc đẩy, tạo điều kiện để những người lầm lỗi suy nghĩ, nhận thức được vi phạm của mình và tự nguyện ra trình báo với các cơ quan pháp luật để sửa chữa./.
Người phạm tội tham ô tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, được bổ sung bởi điểm r khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 và sửa đổi bởi Khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 như sau:
Tội tham ô tài sản
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;
e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;
g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.