Thay thế 2.340.000 đồng và 3.450.000 đồng, năm 2026 Quốc hội và Chính phủ thống nhất chọn mức lương mới tính trợ cấp thất nghiệp tối đa cho người lao động tại vùng 4, chi tiết ra sao?

Thống nhất năm 2026, chọn mức lương mới 3.700.000 đồng để tính trợ cấp thất nghiệp tối đa cho người lao động tại vùng 4.

Theo Thư viện Pháp luật, năm 2026, Quốc hội và Chính phủ thống nhất chọn mức lương mới 3.700.000 đồng để tính trợ cấp thất nghiệp tối đa cho người lao động tại vùng 4 thay thế cho mức lương cơ sở 2.340.000 đồng và mức lương tối thiểu vùng năm 2025 là 3.450.000 đồng.

Cụ thể:

Năm 2025 tại Điều 50 Luật Việc làm 2013 người lao động tại vùng 4 sẽ có 02 công thức tính trợ cấp thất nghiệp tối đa:

- Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa tại vùng 4 của khu vực nhà nước = 5 x mức lương cơ sở. Mà mức lương cơ sở theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP là 2.34 triệu đồng.

- Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa tại vùng 4 của khu vực nhà nước = 5 x mức lương tối thiểu vùng 4. Mà mức lương tối thiểu vùng 4 năm 2025 theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP là 3.450.000 đồng.

11-1773203730.jpg
Thay thế 2.340.000 đồng và 3.450.000 đồng, năm 2026 Quốc hội và Chính phủ thống nhất chọn mức lương mới tính trợ cấp thất nghiệp tối đa cho người lao động tại vùng 4, chi tiết ra sao? Ảnh minh họa

Sang năm 2026 tại Điều 39 Luật Việc làm 2025 thống nhất áp dụng chung 01 công thức tính trợ cấp thất nghiệp tối đa cho người lao động khu vực doanh nghiệp và nhà nước = 5 x mức lương tối thiểu vùng 4. Mà mức lương tối thiểu vùng 4 năm 2026 theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP là 3.700.000 đồng.

Luật Việc làm 2025 Quốc hội đã thống nhất chọn mức lương tối thiểu vùng làm cơ sở tính trợ cấp thất nghiệp tối đa chung cho tất cả đối tượng, và mức lương tối thiểu vùng năm 2026 được Chính phủ tăng từ 3.450.000 đồng lên 3.700.000 đồng, nên mức 3tr7 được áp dụng để tính TCTN tối đa năm 2026.

Ngoài ra, sẽ không giải hồ sơ cho hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đã quá 03 tháng. Cụ thể tại điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp quy định rõ phải đáp ứng đủ được các điều kiện sau:

- Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

- Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết.

(Điều 38 Luật Việc làm 2025)

Phương Anh (T/h)