Tự động khóa tài khoản định danh điện tử khi dùng số điện thoại không chính chủ từ 28/9/2026 đúng không?

Từ ngày 28/9/2026, tài khoản định danh điện tử của công dân có thể bị hệ thống tự động khóa nếu số thuê bao di động dùng để đăng ký tài khoản đã thay đổi và không chính chủ.

Theo Thư viện pháp luật, ngày 13/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 320/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 28/9/2026) sửa đổi Nghị định 69/2024/NĐ-CР ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử.

20b8c98b-e6a6-4153-8534-b34acf3e1126-1786925561.png

Theo điểm b khoản 1 Điều 15 Nghị định 69/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 8 Nghị định 320/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Trình tự, thủ tục khóa, mở khóa tài khoản định danh điện tử

1. Khóa, mở khóa tài khoản định danh điện tử của công dân Việt Nam.

a) Hệ thống định danh và xác thực điện tử tự động khóa, mở khóa tài khoản định danh điện tử của công dân khi căn cước điện tử của công dân bị khóa, mở khóa;

b) Hệ thống định danh và xác thực điện tử tự động khóa tài khoản định danh điện tử của công dân khi số thuê bao di động công dân sử dụng để đăng ký tài khoản định danh điện tử đã thay đổi và không chính chủ.

Như vậy, so với quy định hiện hành, quy định mới đã bổ sung trường hợp hệ thống định danh và xác thực điện tử tự động khóa tài khoản định danh điện tử khi số thuê bao di động để đăng ký tài khoản định danh điện tử của công dân đã thay đổi và không chính chủ.

Giá trị sử dụng của thẻ căn cước năm 2026 là bao lâu?

Căn cứ theo Điều 20 Luật Căn cước 2023 quy định giá trị sử dụng của thẻ căn cước năm 2026 như sau:

- Thẻ căn cước có giá trị chứng minh về căn cước và thông tin khác đã được tích hợp vào thẻ căn cước của người được cấp thẻ để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam.

- Thẻ căn cước được sử dụng thay cho giấy tờ xuất nhập cảnh trong trường hợp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép người dân nước ký kết được sử dụng thẻ căn cước thay cho giấy tờ xuất nhập cảnh trên lãnh thổ của nhau.

- Thẻ căn cước hoặc số định danh cá nhân được sử dụng để cơ quan, tổ chức, cá nhân kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia khác và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người được cấp thẻ căn cước phải xuất trình thẻ căn cước theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không được yêu cầu người được cấp thẻ xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã được in, tích hợp vào thẻ căn cước;

Trường hợp thông tin đã thay đổi so với thông tin trên thẻ căn cước, người được cấp thẻ phải cung cấp giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý chứng minh các thông tin đã thay đổi.

- Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được cấp thẻ căn cước theo quy định của pháp luật.

Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử phải bảo đảm điều kiện gì?

Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử phải bảo đảm điều kiện theo quy định tại Điều 22 Nghị định 69/2024/NĐ-CP quy định như sau:

Dịch vụ xác thực điện tử

screenshot-1786925343-1786925380.png
Người dùng phải xác nhận chính chủ SIM trên nền tảng VNeID - Ảnh: ĐỨC THIỆN/ Tuổi trẻ.

1. Dịch vụ xác thực điện tử là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

2. Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử phải bảo đảm điều kiện quy định tại Điều 23 Nghị định này và được Bộ Công an cấp xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xác thực điện tử.

3. Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử có trách nhiệm niêm yết danh mục sản phẩm, dịch vụ xác thực điện tử do mình thực hiện trên trang thông tin định danh điện tử.

Tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử phải bảo đảm điều kiện quy định tại Điều 23 Nghị định 69/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 43 Nghị định 169/2025/NĐ-CP và được Bộ Công an cấp xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xác thực điện tử. Cụ thể như sau:

(1) Điều kiện về tổ chức, doanh nghiệp

- Đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước hoạt động tại Việt Nam.

(2) Điều kiện về nhân sự

- Người đứng đầu tổ chức, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam;

- Tổ chức, doanh nghiệp phải có nhân sự có bằng đại học trở lên chuyên ngành an toàn thông tin hoặc công nghệ thông tin hoặc điện tử viễn thông chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ, quản trị hệ thống, vận hành hệ thống, bảo đảm an toàn thông tin của hệ thống.

(3) Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, quy trình quản lý cung cấp dịch vụ và phương án bảo đảm an ninh, trật tự

- Tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xác thực điện tử phải có Đề án hoạt động cung cấp dịch vụ bao gồm các nội dung sau:

+ Phương án, quy trình hoạt động cung cấp dịch vụ xác thực điện tử bao gồm thuyết minh hệ thống công nghệ thông tin; thuyết minh phương án kỹ thuật về giải pháp công nghệ;

+ Phương án lưu trữ, bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu, bảo đảm an ninh an toàn thông tin của hệ thống cung cấp dịch vụ;

+ Phương án bảo vệ dữ liệu cá nhân, tổ chức; phương án bảo đảm an ninh, trật tự;

+ Phương án phòng cháy và chữa cháy, dự phòng thảm họa và bảo đảm vận hành ổn định, thông suốt dịch vụ xác thực điện tử; trang thiết bị kỹ thuật phải được đặt tại Việt Nam và được kiểm định an ninh an toàn thông tin theo quy định của pháp luật.

Lam Giang (t/h)