Người lao động và doanh nghiệp cùng đóng 1%
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP.
Theo quy định, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hằng tháng được xác định như sau:
- Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
- Ngân sách trung ương hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định, với mức tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Ví dụ, người lao động có mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là 15 triệu đồng/tháng sẽ đóng 150.000 đồng. Doanh nghiệp cũng đóng thêm 150.000 đồng cho người lao động này.
Tổng số tiền được đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp trong trường hợp trên là 300.000 đồng/tháng, chưa tính phần hỗ trợ của Nhà nước nếu phát sinh theo cơ chế điều hành quỹ.

Tiền lương nào được dùng để tính đóng?
Đối với người lao động hưởng lương do doanh nghiệp quyết định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp gồm:
- Mức lương theo công việc hoặc chức danh;
- Các khoản phụ cấp lương;
- Các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, căn cứ đóng gồm tiền lương theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và một số khoản phụ cấp theo quy định.
Trường hợp người lao động ngừng việc nhưng vẫn được trả lương bằng hoặc cao hơn mức tiền lương thấp nhất làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên khoản tiền lương thực tế người lao động nhận trong thời gian ngừng việc.
Mức đóng tối đa theo từng vùng
Luật Việc làm năm 2025 quy định tiền lương tháng cao nhất dùng để đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 20 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng.
Căn cứ mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 1/1/2026, mức tiền lương và số tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa được xác định như sau:
| Vùng | Lương tối thiểu tháng | Tiền lương tối đa tính đóng | Mức đóng tối đa của người lao động | Mức đóng tối đa của doanh nghiệp |
|---|---|---|---|---|
| Vùng I | 5.310.000 đồng | 106.200.000 đồng | 1.062.000 đồng/tháng | 1.062.000 đồng/người/tháng |
| Vùng II | 4.730.000 đồng | 94.600.000 đồng | 946.000 đồng/tháng | 946.000 đồng/người/tháng |
| Vùng III | 4.140.000 đồng | 82.800.000 đồng | 828.000 đồng/tháng | 828.000 đồng/người/tháng |
| Vùng IV | 3.700.000 đồng | 74.000.000 đồng | 740.000 đồng/tháng | 740.000 đồng/người/tháng |
Như vậy, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cao nhất của người lao động trong năm 2026 là 1,062 triệu đồng/tháng, áp dụng đối với người làm việc tại địa bàn thuộc vùng I.
Doanh nghiệp cũng đóng tối đa 1,062 triệu đồng/người/tháng cho lao động thuộc trường hợp này.
Nếu tiền lương thực tế cao hơn mức trần của vùng, số tiền bảo hiểm thất nghiệp vẫn chỉ được tính trên mức tiền lương tối đa tương ứng.
Những người thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Theo Luật Việc làm năm 2025, đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn từ đủ một tháng trở lên.
Người làm việc không trọn thời gian cũng thuộc diện tham gia nếu tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương thấp nhất làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Ngoài ra, người làm việc theo hợp đồng làm việc và một số chức danh quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã có hưởng tiền lương cũng phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Người đang hưởng lương hưu, đã đủ điều kiện hưởng lương hưu, đang làm việc theo hợp đồng thử việc hoặc làm giúp việc gia đình không thuộc diện tham gia.

Trường hợp nào không phải đóng trong tháng?
Người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng đó.
Người lao động bị tạm giam hoặc tạm đình chỉ công việc cũng được tạm dừng đóng. Nếu sau đó được truy lĩnh đầy đủ tiền lương, người lao động và người sử dụng lao động phải đóng bù bảo hiểm thất nghiệp cho thời gian đã tạm dừng.
Một điểm mới đáng chú ý là doanh nghiệp tuyển mới và sử dụng người lao động khuyết tật có thể được giảm phần đóng thuộc trách nhiệm của mình từ 1% xuống 0%. Thời gian được giảm không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển dụng và phải đáp ứng các thủ tục theo quy định.
Việc xác định đúng tiền lương, địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng và số tháng phải đóng có ý nghĩa trực tiếp đối với quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động khi chấm dứt việc làm.