Theo báo Người Lao Động, sáng 20/1, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh Gia Lai cho biết vừa thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Huỳnh Hải Huy (SN 1983; trú phường Pleiku) để điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Khoảng 2 tháng trước, vợ của Huy là Nguyễn Thị Hồng Thảo (SN 1985, trú cùng địa phương) cũng đã bị khởi tố, bắt tạm giam về cùng tội danh.
Theo kết quả điều tra ban đầu, vợ chồng Thảo – Huy hoạt động trong lĩnh vực bất động sản tại TP Pleiku (cũ), chuyên mua bán, xây dựng các căn nhà lớn để bán lại. Trong quá trình hoạt động, hai người này tạo dựng hình ảnh là những "đại gia" sở hữu nhiều dự án bất động sản.
Từ đó, vợ chồng Thảo – Huy vay mượn tiền của nhiều người với cam kết trả cả gốc lẫn lãi suất cao, đồng thời sử dụng giấy tờ giả để chứng minh hoạt động mua bán đất, tạo lòng tin cho các bị hại. Tin tưởng vào hình ảnh và các cam kết, nhiều người đã cho vợ chồng này vay tiền. Tổng số tiền bị chiếm đoạt được xác định ban đầu lên đến hàng chục tỉ đồng.
Đến khoảng tháng 10-2025, thông tin vợ chồng Thảo – Huy vỡ nợ với số tiền lên đến hàng trăm tỉ đồng lan truyền trên mạng xã hội, gây xôn xao dư luận tại Pleiku.
Theo báo Dân Việt, với thủ đoạn này, vợ chồng Huy đã vay và chiếm đoạt của nhiều bị hại với số tiền tính đến thời điểm hiện tại là hơn 12 tỷ đồng. Thảo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố, bắt tạm giam từ tháng 11/2025.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh thông báo: Cá nhân, tổ chức nào là bị hại hoặc liên quan đến vụ việc này liên hệ đơn vị ở 267A Trần Phú (phường Diên Hồng), gặp điều tra viên thụ lý Triệu Đỗ Trường Sơn (số điện thoại 0396.546.765) để trình báo và được hướng dẫn giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hiện vụ việc đang được điều tra làm rõ.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định cụ thể tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), cụ thể như sau:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Đã bị bãi bỏ;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Đã bị bãi bỏ;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.