Trên Cổng thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một công dân tại Đắk Lắk phản ánh vướng mắc liên quan đến việc xác định loại đất đối với thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1990.
Theo nội dung trình bày, ngày 28/5/1990, gia đình công dân được UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 100, tờ bản đồ số 09, diện tích 1.064m², mục đích sử dụng ghi là “đất khu dân cư”, thời hạn sử dụng lâu dài.
Phần ghi thêm trên Giấy chứng nhận thể hiện đất được cấp từ năm 1976. Trích lục bản đồ giải thửa được phê duyệt năm 1990 thể hiện ký hiệu “T 100/1064”.
Trong khi đó, đơn đăng ký quyền sử dụng ruộng đất và sổ đăng ký ruộng đất lại thể hiện thửa đất có 400m² thổ cư và 664m² đất màu.
Từ thực tế trên, công dân đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường giải đáp hai vấn đề: ký hiệu “T” trên bản đồ địa chính đo năm 1988 là loại đất gì và phần 664m² đất màu có được xác định là đất vườn liền với đất ở hay không.
Ngày 1/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có ý kiến trả lời.

Ký hiệu “T” là “đất khu vực thổ cư”
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, căn cứ Bản tổng hợp thống kê ruộng đất ban hành kèm theo Quyết định số 56-ĐKTK ngày 5/11/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất, ký hiệu “T” được xác định là “đất khu vực thổ cư”.
Khái niệm này được hiểu là đất xây dựng trong các khu dân cư thành thị và nông thôn, trừ phần thổ canh, ao hồ, đường đi lại trong thôn xóm đã được đo đạc tách riêng.
Nhóm đất này bao gồm đất ở và đất xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung như văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao; trụ sở cơ quan, đoàn thể, tôn giáo; kho tàng và một số cơ sở phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp.
Như vậy, ký hiệu “T” trong hồ sơ bản đồ cũ phản ánh đất khu vực thổ cư theo hệ thống phân loại tại thời điểm đó, chứ không đồng nghĩa mặc nhiên toàn bộ diện tích của thửa đất là đất ở theo cách phân loại hiện hành.
664m² đất màu có được coi là đất vườn liền đất ở?
Đây là nội dung được nhiều người quan tâm.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hồ sơ mà công dân cung cấp cho thấy có sự khác nhau giữa các giấy tờ.
Cụ thể, đơn đăng ký và sổ đăng ký ruộng đất thể hiện thửa số 100 gồm 400m² thổ cư và 664m² đất màu, trong khi Giấy chứng nhận cấp năm 1990 lại ghi chung mục đích sử dụng là “đất khu dân cư”.
Do đó, Bộ cho rằng chưa thể chỉ dựa vào một tài liệu hoặc ký hiệu “T” trên bản đồ để kết luận 664m² đất màu là đất vườn gắn liền với đất ở.
Cơ quan có thẩm quyền cần đối chiếu đồng thời Giấy chứng nhận đã cấp với hồ sơ cấp giấy, hồ sơ giao đất năm 1976 nếu còn lưu giữ, đơn đăng ký, sổ đăng ký ruộng đất và bản đồ địa chính.
Việc xác định phần 664m² này có nguồn gốc là đất vườn gắn liền với đất ở hay không phải dựa trên nguồn gốc, hồ sơ pháp lý và quá trình sử dụng đất cụ thể.

Giấy chứng nhận đã cấp là một căn cứ để xác định loại đất
Bộ Nông nghiệp và Môi trường dẫn Điều 10 Luật Đất đai năm 2024, theo đó Giấy chứng nhận đã cấp là một trong những căn cứ để xác định loại đất.
Trường hợp loại đất ghi trên giấy tờ đã cấp khác với cách phân loại theo Luật Đất đai hiện hành hoặc khác với hiện trạng sử dụng thì việc xác định loại đất được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Điều này có nghĩa, đối với những thửa đất có hồ sơ hình thành từ nhiều năm trước, đặc biệt sử dụng các thuật ngữ cũ như “đất khu dân cư”, “thổ cư”, “đất màu”, việc xác định lại loại đất không chỉ căn cứ vào tên gọi trên một loại giấy tờ mà cần xem xét toàn bộ hồ sơ địa chính và lịch sử sử dụng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị công dân liên hệ UBND cấp xã nơi có đất, đồng thời cung cấp Giấy chứng nhận và toàn bộ giấy tờ liên quan để cơ quan địa phương kiểm tra.
Trên cơ sở đó, UBND cấp xã phối hợp với cơ quan đăng ký đất đai đối chiếu hồ sơ lưu trữ, xác định loại đất, nguồn gốc và quá trình sử dụng phần diện tích đang có vướng mắc để giải quyết theo thẩm quyền.