Theo Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động giúp việc gia đình phải thông báo cho UBND xã, phường, thị trấn về việc sử dụng hoặc chấm dứt sử dụng lao động trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.
Đây là một trong những quy định người thuê giúp việc gia đình cần đặc biệt lưu ý để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng lao động.

Thuê người giúp việc phải thông báo trong 10 ngày
Cụ thể, khi thuê người giúp việc gia đình, người sử dụng lao động thực hiện thông báo với UBND cấp xã theo Mẫu số 02/PLV tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Thời hạn thực hiện là 10 ngày kể từ ngày hai bên ký hợp đồng lao động giúp việc gia đình.
Không chỉ khi bắt đầu thuê người giúp việc, khi chấm dứt hợp đồng lao động, chủ nhà cũng có nghĩa vụ thông báo với chính quyền địa phương.
Theo đó, người sử dụng lao động sử dụng Mẫu số 03/PLV tại Phụ lục V để thông báo về việc chấm dứt sử dụng lao động giúp việc gia đình.
Thời hạn thông báo cũng là 10 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.
Như vậy, có hai thời điểm quan trọng mà người thuê giúp việc cần lưu ý: trong vòng 10 ngày kể từ khi ký hợp đồng và trong vòng 10 ngày kể từ khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Đáng chú ý, trường hợp người thuê giúp việc không thông báo với UBND cấp xã về việc sử dụng hoặc chấm dứt sử dụng lao động giúp việc gia đình có thể bị phạt tiền từ 1-3 triệu đồng.
Chủ nhà phải bảo đảm an toàn cho người giúp việc
Ngoài nghĩa vụ thông báo với chính quyền địa phương, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đối với người giúp việc gia đình.
Theo khoản 5 Điều 89 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm hướng dẫn người giúp việc cách sử dụng máy móc, thiết bị, đồ dùng và các biện pháp phòng, chống cháy nổ trong gia đình có liên quan tới công việc.
Chủ nhà cũng phải trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cần thiết cho người lao động trong quá trình làm việc.
Trường hợp người giúp việc bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải thực hiện trách nhiệm đối với người lao động theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Ở chiều ngược lại, người giúp việc có trách nhiệm chấp hành đúng hướng dẫn sử dụng máy móc, thiết bị, đồ dùng và các quy định về phòng, chống cháy nổ; đồng thời bảo đảm yêu cầu vệ sinh môi trường của hộ gia đình và khu dân cư nơi cư trú.
Người giúp việc có thể bị sa thải trong trường hợp nào?
Nghị định 145/2020/NĐ-CP cũng quy định về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất đối với lao động là người giúp việc gia đình.
Theo đó, người sử dụng lao động và người lao động cần xác định cụ thể hành vi vi phạm, hình thức xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất theo quy định của Bộ luật Lao động. Những nội dung này được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thể hiện bằng hình thức thỏa thuận khác.
Các hình thức xử lý kỷ luật đối với người giúp việc gia đình gồm khiển trách và sa thải.
Người sử dụng lao động có thể áp dụng hình thức sa thải trong các trường hợp người lao động có hành vi thuộc các trường hợp được quy định tại Bộ luật Lao động.
Ngoài ra, người giúp việc có hành vi ngược đãi, đánh đập, có lời nói hoặc hành vi nhục mạ, làm ảnh hưởng tới sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người sử dụng lao động hoặc thành viên trong hộ gia đình cũng có thể bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải.
Khi phát hiện người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật, người sử dụng lao động xem xét và xử lý theo quy định.
Đặc biệt, nếu người giúp việc từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, người sử dụng lao động phải thông báo việc xử lý kỷ luật đến người đại diện theo pháp luật của người lao động.
Việc xử lý kỷ luật lao động đối với người giúp việc phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Lao động 2019.