Theo báo Dân Việt, ngày 14/11, Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội cho biết đang làm rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan Trần Ngọc Bích, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Du lịch Bắc Á.
Trong quá trình xác minh, nhà chức trách đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bà Bích (51 tuổi, trú phường Thanh Xuân), nguyên Giám đốc Công ty TNHH TM và du lịch Bắc Á, để điều tra tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo điều tra ban đầu, bà Bích bị cáo buộc đưa ra thông tin gian dối về việc giảm giá các tour du lịch trong và ngoài nước nhằm thu hút khách ký hợp đồng, chuyển tiền. Sau khi nhận tiền, bà không tổ chức tour như cam kết và chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân.
Theo báo Dân Trí, để đảm bảo quyền lợi của các bị hại, Công an thành phố Hà Nội thông báo, đề nghị các cá nhân đã giao tài sản, chuyển tiền cho bà Trần Ngọc Bích hoặc chuyển cho Công ty TNHH TM và du lịch Bắc Á cần đến Cơ quan Cảnh sát điều tra trình báo, cung cấp các tài liệu liên quan tại số 382 Khâm Thiên, phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, qua điều tra viên Nguyễn Quang Nghị (số điện thoại: 098.108.9995).
Theo Công an Hà Nội, nếu hết thời hạn điều tra vụ án, các cá nhân không đến trình báo, cơ quan điều tra sẽ kết thúc điều tra vụ án và chuyển hồ sơ đến VKSND TP Hà Nội đề nghị truy tố bị can theo quy định.
Tài liệu cung cấp cho cơ quan điều tra gồm: Toàn bộ các chứng từ (bản chính): Phiếu thu tiền, Hợp đồng du lịch (nếu có); toàn bộ chứng từ sao kê giao dịch tài khoản tại ngân hàng, giấy nộp tiền mặt tại ngân hàng hoặc giấy tờ viết tay biên nhận việc chuyển tiền thể hiện việc đưa, chuyển tiền cho cá nhân thuộc Công ty TNHH TM và du lịch Bắc Á, hoặc chuyển tiền vào tài khoản của bà Trần Ngọc Bích hoặc của Công ty TNHH TM và du lịch Bắc Á.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định cụ thể tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), cụ thể như sau:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Đã bị bãi bỏ;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Đã bị bãi bỏ;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.