Năm 2026, tăng trực tiếp cho CBCCVC, Công an, Quân đội hơn 23.400.000 đồng khi lần đầu nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trong trường hợp nào?

Cán bộ công chức viên chức, Công an, Quân đội lần đầu nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trong năm 2026 có được tăng lên mức cao hơn không?
tien-ngan-hang-1-57620240720075135-1766981817484-1766981818359843013880-1772175680.webp
Cán bộ công chức viên chức, Công an, Quân đội lần đầu nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trong năm 2026 có được tăng lên mức cao hơn không?

Nghị định 76/2019/NĐ-CP quy định về chính sách đối với cán bộ công chức viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và cơ yếu) công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thông tin trên Thư viện pháp luật.

Theo đó, hiện nay, căn cứ Điều 6 Nghị định 76/2019/NĐ-CP, Nghị định 73/2024/NĐ-CP và Thông tư 07/2024/TT-BNV thì mức lương cơ sở để tính trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là 2,340,000 đồng.

Tại Điều 6 Nghị định 76/2019/NĐ-CP quy định:

Trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này khi nhận công tác lần đầu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp như sau:

1. Trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

2. Trường hợp có gia đình cùng đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì ngoài trợ cấp lần đầu, còn được trợ cấp:

a) Tiền tàu xe, cước hành lý cho các thành viên trong gia đình cùng đi tính theo giá vé, giá cước thực tế của phương tiện giao thông công cộng hoặc thanh toán theo mức khoán trên cơ sở số kilômét đi thực tế nhân với đơn giá phương tiện vận tải công cộng thông thường (tàu, thuyền, xe ô tô khách);

b) Trợ cấp 12 tháng lương cơ sở cho hộ gia đình.

fabe5-1772175809.jpg
Tăng lương là điều mà người lao động luôn mong chờ. Ảnh minh họa

3. Các khoản trợ cấp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nơi tiếp nhận, bố trí công tác chi trả ngay khi đối tượng được hưởng nhận công tác và chỉ thực hiện một lần trong tổng thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Dẫn chiếu đến Điều 2 Nghị định 76/2019/NĐ-CP thì cán bộ công chức viên chức, Công an, Quân đội nhận trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương cơ sở (23,400,000 đồng) tại thời điểm nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Theo đó, trong tháng 3/2026 Chính phủ yêu cầu điều chỉnh lương hưu, điều chỉnh lương cơ sở cùng một số loại phụ cấp, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội theo Kết luận 206-KL/TW năm 2025.

Tải Công văn 38/TTg-QHĐP năm 2026 về điều chỉnh lương hưu, điều chỉnh lương cơ sở cùng một số loại phụ cấp  Tải về

Do đó, năm 2026 khi tăng lương cơ sở lên mức cao hơn 2,340,000 đồng thì tiền trợ cấp lần đầu nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cũng sẽ được tăng lên theo cao hơn 23.400.000 đồng.

Theo báo Tuổi trẻ, Bộ luật Lao động 2019 nêu rõ tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường tăng từ 60 lên 62 tuổi với nam, và từ 55 lên 60 tuổi với nữ. Từ năm 2021, mỗi năm tăng thêm 3 tháng với nam và 4 tháng với nữ cho tới khi nam đủ 62 tuổi vào năm 2028, nữ đủ 60 tuổi vào năm 2035.

Như vậy, vào năm 2026, lao động nam nghỉ hưu ở 61 tuổi 6 tháng, còn lao động nữ là 57 tuổi. Thời điểm hưởng lương hưu là ngày đầu tiên của tháng liền kề sau khi nghỉ hưu.

Cụ thể, người lao động làm việc trong điều kiện bình thường hưởng lương hưu nếu đáp ứng 2 điều kiện là đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên và đến tuổi về hưu, tức giảm 5 năm tối thiểu so với quy định hiện hành.

Đối với lao động nữ, lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, tương ứng 15 năm đóng.

Còn với lao động nam, lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, tương ứng 20 năm đóng (nếu đóng 15 năm tính 40%, mỗi năm đóng thêm cộng 1%).

Sau đó người lao động đóng thêm bảo hiểm xã hội được cộng tỉ lệ là 2%/năm, song tối đa bằng 75%.

Đối với người làm theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định, người đóng từ 1-1-2007 đến ngày 31-12-2025 sẽ tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

 

Nhật Hạ (t/h)