Nghỉ thai sản, làm việc không trọn năm: Doanh nghiệp có phải trả thưởng cuối năm?

Người lao động nghỉ thai sản trong năm có được nhận thưởng cuối năm hay không là thắc mắc của nhiều người. Thực tế, việc chi trả khoản thưởng này không phụ thuộc vào thời gian làm đủ hay chưa đủ 12 tháng, mà căn cứ vào quy chế thưởng, nội quy lao động và thỏa thuận của doanh nghiệp.

Tại Điều 6 Bộ luật Lao động 2019 có nêu về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động như sau:

Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động

2. Người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động;

nghi-thai-san-co-duoc-thuong-tet-khong-image-2-1-1767227718.jpg
Người lao động nghỉ thai sản trong năm có được nhận thưởng cuối năm hay không là thắc mắc của nhiều người.

Đồng thời tại Điều 104 Bộ luật Lao động 2019 quy định về thưởng như sau:

1. Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

Theo đó, thưởng không phải là quy định bắt buộc trước mà tùy vào quy chế mà đơn vị ban hành trước hoặc theo những nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể.

Vì vậy, bên cạnh hợp đồng lao động, cần đối chiếu tiếp trong nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể xem có đề cập việc thưởng cuối năm cho người lao động có thời gian nghỉ thai sản làm không trọn năm hay không.

Còn nếu có quy chế thưởng riêng thì cũng cần dựa theo quy chế đó, nhưng lưu ý là quy chế này phải ban hành trước chứ không phải quy định thưởng trong HĐLĐ rồi ban hành quy chế sau khi đã xét.

Theo Thư viện pháp luật, căn cứ quy định tại điểm e khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán thuộc trường hợp phải chịu thuế thu nhập cá nhân, trừ các khoản tiền thưởng sau đây:

- Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, bao gồm cả tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng, cụ thể:

+ Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua như Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến, Chiến sỹ tiên tiến.

+ Tiền thưởng kèm theo các hình thức khen thưởng.

+ Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu do Nhà nước phong tặng.

+ Tiền thưởng kèm theo các giải thưởng do các Hội, tổ chức thuộc các Tổ chức chính trị, Tổ chức chính trị - xã hội, Tổ chức xã hội, Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Trung ương và địa phương trao tặng phù hợp với điều lệ của tổ chức đó và phù hợp với quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

+ Tiền thưởng kèm theo giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước.

+ Tiền thưởng kèm theo Kỷ niệm chương, Huy hiệu.

+ Tiền thưởng kèm theo Bằng khen, Giấy khen.

- Tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận.

- Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận.

- Tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, khoản tiền thưởng cuối năm mà người lao động được nhận không nằm trong các khoản tiền thưởng được loại trừ, do đó, trong trường hợp người lao động có số tiền thưởng cuối năm đến mức phải chịu thuế thì vẫn phải nộp thuế theo quy định pháp luật.

 

Tú Uyên (t/h)