Từ ngày 1/7/2026, Thông tư 108/2026/TT-BCA của Bộ Công an chính thức có hiệu lực, quy định chi tiết về công tác sát hạch, cấp giấy phép lái xe cũng như cấp và sử dụng giấy phép lái xe quốc tế. Một trong những nội dung đáng chú ý là quy trình thu hồi giấy phép lái xe và cách xử lý đối với từng trường hợp sau khi bị thu hồi.
Dưới đây là những quy định mới mà người dân cần lưu ý.
Quy trình thu hồi giấy phép lái xe được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 25 Thông tư 108/2026/TT-BCA, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện thu hồi giấy phép lái xe khi người điều khiển phương tiện thuộc các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ (đã được sửa đổi, bổ sung).
Tùy từng loại giấy phép lái xe, trình tự xử lý sẽ có sự khác nhau.
Trường hợp giấy phép lái xe đã có trên hệ thống dữ liệu điện tử

Đối với giấy phép lái xe đã được cập nhật trên hệ thống dữ liệu điện tử, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi phát hiện người vi phạm thuộc diện bị thu hồi giấy phép, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông sẽ ban hành quyết định thu hồi và hủy bỏ giấy phép lái xe.
Quyết định thu hồi phải ghi rõ căn cứ và lý do thực hiện. Đồng thời, cơ quan chức năng sẽ xóa việc tích hợp giấy phép lái xe điện tử trên ứng dụng định danh điện tử quốc gia hoặc các ứng dụng chuyên ngành của lực lượng Công an nhân dân theo quy định.
Trong trường hợp này, người dân không phải nộp lại bản giấy của giấy phép lái xe.
Giấy phép chưa có dữ liệu điện tử phải nộp lại
Đối với giấy phép lái xe chưa được cập nhật trên hệ thống dữ liệu điện tử, việc thu hồi cũng được thực hiện trong 3 ngày làm việc kể từ thời điểm phát hiện hành vi thuộc diện bị thu hồi.
Thẩm quyền ban hành quyết định trong trường hợp này thuộc Trưởng phòng Cảnh sát giao thông.
Sau khi nhận được quyết định thu hồi, người có giấy phép lái xe phải nộp lại giấy phép trong thời hạn 5 ngày làm việc cho Phòng Cảnh sát giao thông.
Sau khi tiếp nhận, Phòng Cảnh sát giao thông sẽ thực hiện việc hủy giấy phép theo quy định và báo cáo kết quả về Cục Cảnh sát giao thông để cập nhật, quản lý trên hệ thống.
Sau khi bị thu hồi, giấy phép lái xe được xử lý ra sao?

Thông tư 108/2026/TT-BCA cũng quy định rõ cách xử lý đối với từng trường hợp giấy phép lái xe bị thu hồi.
Một số trường hợp vẫn được cấp lại giấy phép
Đối với giấy phép lái xe bị thu hồi theo các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, người dân vẫn có thể thực hiện thủ tục xin cấp lại giấy phép lái xe.
Việc cấp lại được thực hiện theo hồ sơ, trình tự và thủ tục quy định tại Điều 21 Thông tư 108/2026/TT-BCA.
Có trường hợp không được cấp lại giấy phép trong 5 năm
Đối với trường hợp giấy phép lái xe bị thu hồi theo điểm c khoản 5 Điều 62 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, quy định xử lý nghiêm khắc hơn.
Cụ thể, ngay khi phát hiện hành vi vi phạm, cơ quan quản lý sẽ cập nhật thông tin vi phạm vào hệ thống quản lý giấy phép lái xe của Cục Cảnh sát giao thông.
Đồng thời, người vi phạm không được xem xét cấp giấy phép lái xe trong thời hạn 5 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
Sau khi hết thời hạn này, nếu có nhu cầu điều khiển phương tiện trở lại, người vi phạm không được cấp lại giấy phép theo thủ tục thông thường mà phải đăng ký học và tham gia sát hạch lại từ đầu, tương tự như người xin cấp giấy phép lái xe lần đầu.
Quy định mới tăng cường quản lý giấy phép lái xe
Việc áp dụng quy trình thu hồi giấy phép lái xe theo Thông tư 108/2026/TT-BCA được đánh giá là bước tiến trong quá trình chuyển đổi số lĩnh vực giao thông đường bộ, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý dữ liệu người lái xe trên phạm vi toàn quốc.
Đặc biệt, việc đồng bộ dữ liệu điện tử giúp rút ngắn thời gian xử lý, giảm thủ tục hành chính và hạn chế tình trạng sử dụng giấy phép không còn giá trị.
Đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng, quy định không cho cấp lại giấy phép trong 5 năm và buộc phải học, sát hạch lại sau thời gian này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên toàn quốc từ năm 2026 trở đi.