Toàn bộ CBCCVC chưa đến tuổi nghỉ hưu được hưởng 03 tháng lương và còn tăng thêm theo mỗi năm công tác khi nghỉ thôi việc ngay theo Nghị định 154, chi tiết thế nào?

Cán bộ, công chức, viên chức chưa đến tuổi nghỉ hưu nếu nghỉ thôi việc ngay được hưởng 03 tháng lương và còn tăng thêm theo mỗi năm công tác cụ thể tại Nghị định 154 như thế nào?

Theo Thư viện Pháp luật, căn cứ Điều 8 Nghị định 154/2025/NĐ-CP, cán bộ, công chức, viên chức chưa đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 135/2020/NĐ-CP và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi quy định tại Điều 6 Nghị định 154/2025/NĐ-CP, nếu thôi việc ngay thì được hưởng các chế độ sau:

- Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm;

- Được trợ cấp 1,5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;

- Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Như vậy, cán bộ, công chức, viên chức chưa đến tuổi nghỉ hưu nhận 03 tháng tiền lương cộng với 1,5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm công tác có đóng BHXH bắt buộc khi chưa đáp ứng được điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi quy định tại Điều 6 Nghị định 154/2025/NĐ-CP.

4-1773715124.jpg
Toàn bộ CBCCVC chưa đến tuổi nghỉ hưu được hưởng 03 tháng lương và còn tăng thêm theo mỗi năm công tác khi nghỉ thôi việc ngay theo Nghị định 154, chi tiết thế nào? Ảnh minh họa

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 154/2025/NĐ-CP quy định về tiền lương tính hưởng trợ cấp tinh giản biên chế như sau:

Cách xác định thời gian và tiền lương để tính hưởng trợ cấp tinh giản biên chế

1. Tiền lương hiện hưởng để tính trợ cấp là tiền lương tháng liền kề trước khi tinh giản biên chế, bao gồm: mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh, chức danh nghề nghiệp hoặc mức lương theo thỏa thuận của hợp đồng lao động hoặc mức lương của người quản lý công ty; các khoản phụ cấp lương (gồm: phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề) và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) theo quy định của pháp luật về tiền lương.

Riêng đối với các trường hợp đang nghỉ việc không hưởng lương, nghỉ hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì tiền lương tháng hiện hưởng là tiền lương tháng liền kề của tháng trước khi nghỉ việc không hưởng lương, nghỉ hưởng chế độ ốm đau nhưng mức lương cơ sở được tính theo mức lương cơ sở của tháng liền kề trước khi tinh giản biên chế.

2. Phụ cấp hàng tháng hiện hưởng của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố là phụ cấp của tháng liền kề trước khi nghỉ việc do ngân sách trung ương khoán quỹ phụ cấp để chi trả.

Trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ của người hoạt động không chuyên trách khác ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố thì phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tính trợ cấp là phụ cấp hàng tháng của chức danh hiện hưởng và không tính phụ cấp hàng tháng của chức danh kiêm nhiệm.

Như vậy, tiền lương hiện hưởng để tính trợ cấp là tiền lương tháng liền kề trước khi tinh giản biên chế, bao gồm:

- Mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh, chức danh nghề nghiệp hoặc mức lương theo thỏa thuận của hợp đồng lao động hoặc mức lương của người quản lý công ty;

- Các khoản phụ cấp lương gồm:

+ Phụ cấp chức vụ lãnh đạo,

+ Phụ cấp thâm niên vượt khung,

+ Phụ cấp thâm niên nghề

+ Hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) theo quy định của pháp luật về tiền lương.

Riêng đối với các trường hợp đang nghỉ việc không hưởng lương, nghỉ hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì tiền lương tháng hiện hưởng là tiền lương tháng liền kề của tháng trước khi nghỉ việc không hưởng lương, nghỉ hưởng chế độ ốm đau nhưng mức lương cơ sở được tính theo mức lương cơ sở của tháng liền kề trước khi tinh giản biên chế.

Phương Anh (T/h)