Tặng 800.000 đồng/người cho Công dân Việt Nam có đăng ký thường trú, tạm trú trên địa bàn khi được chúc thọ, mừng thọ theo Nghị quyết 57, cụ thể ở tuổi bao nhiêu?

Tặng 800.000 đồng/người cho Công dân Việt Nam có đăng ký thường trú, tạm trú trên địa bàn khi được chúc thọ, mừng thọ ở tuổi bao nhiêu tại Nghị quyết 57?

Ngày 14/11/2025, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Nghị quyết 57/2025/NQ-HĐND Về mức chi quà tặng chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 áp dụng đối với các đối tượng sau:

- Người cao tuổi là công dân Việt Nam ở các độ tuổi xác định là 70, 75, 80, 85, 90, 95, 100 và trên 100 đang cư trú hợp pháp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (có đăng ký thường trú hoặc tạm trú từ 06 tháng trở lên).

- Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết này.

11-1777888022.jpg
Tặng 800.000 đồng/người cho Công dân Việt Nam có đăng ký thường trú, tạm trú trên địa bàn khi được chúc thọ, mừng thọ theo Nghị quyết 57, cụ thể ở tuổi bao nhiêu? Ảnh minh họa

Theo đó, mức chi quà tặng chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi như sau:

- Người 70 tuổi và 75 tuổi: mức chi bằng tiền mặt 800.000 đồng/người/lần.

- Người 80 tuổi và 85 tuổi: mức chi bằng tiền mặt 1.200.000 đồng/người/lần.

- Người 90 tuổi và 95 tuổi: mức chi bằng tiền mặt 1.800.000 đồng/người/lần.

- Người 100 tuổi mức chi bằng tiền mặt 2.300.000 đồng/người/lần; 05 mét vải lụa (tối đa 700.000 đồng/người); khánh vàng mừng thọ (theo định mức khối lượng vàng là 0,08 chỉ vàng 24K/cái, tiền gia công chế tác chữ, in hình trên khánh và tiền khung, tối đa 1.500.000 đồng/cái).

- Người trên 100 tuổi: mức chi bằng tiền mặt 2.400.000 đồng/người/lần.

Như vậy, theo Thư viện Pháp luật, tặng 800.000 đồng/người công dân Việt Nam có đăng ký thường trú, tạm trú trên địa bàn khi được chúc thọ, mừng thọ ở tuổi 70 và 75 tuổi.

Lưu ý: Nghị quyết 57/2025/NQ-HĐND năm 2025 Về mức chi quà tặng chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, căn cứ Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 59 Nghị định 145/2020/NĐ-CP không có quy định nào hạn chế việc sử dụng lao động cao tuổi làm thêm giờ. Tuy nhiên, khi sử dụng những người này làm thêm giờ, người sử dụng lao động cũng cần đáp ứng các điều kiện sau:

- Phải được sự đồng ý của người lao động;

- Bảo đảm số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng thời giờ làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ/ngày; không quá 40 giờ/tháng;

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ/năm với công việc bình thường, không quá 300 giờ/năm với một số công việc như: Sản xuất, gia công xuất khẩu hàng dệt, may, điện tử; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông; cấp, thoát nước….

Như vậy, người sử dụng lao động được phép sử dụng lao động cao tuổi làm thêm giờ nếu như người đó đồng ý, đồng thời phải đảm bảo được điều kiện về số giờ làm thêm, trừ trường hợp đặc biệt được quy định Điều 108 Bộ luật Lao động 2019.

Phương Anh (T/h)