Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đối với dự thảo thông tư quy định danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu.
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất danh mục gồm 35 ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng nhu cầu nhân lực vẫn hiện hữu. Các ngành nghề này trải rộng trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, từ nghệ thuật, kinh doanh, khoa học sự sống đến công nghệ kỹ thuật, sản xuất, xây dựng, nông nghiệp, thủy sản, y tế, dịch vụ xã hội và vận tải.

Cơ hội miễn toàn bộ học phí cho người học
- Giáo viên tại trường trung học nghề nhận mức phụ cấp ưu đãi theo nghề là bao nhiêu theo Nghị định 182?
- Chính thức: Nhà nước thu hồi đất, người dân nhận hỗ trợ 3 triệu đồng học nghề, đối tượng nào được nhận?
- Nhà giáo được thay đổi sang vị trí việc làm giáo viên trung học nghề thì được bổ nhiệm vào hạng chức danh và xếp lương như thế nào?
Theo quy định tại Nghị định 238/2025/NĐ-CP, người học trình độ trung cấp và cao đẳng thuộc các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành sẽ được miễn 100% học phí.
Chính sách này hướng tới những ngành nghề có vai trò cần thiết đối với nền kinh tế nhưng chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút đông người học.
Việc miễn học phí vì thế không chỉ giúp giảm gánh nặng tài chính cho người học mà còn được kỳ vọng góp phần giải quyết bài toán thiếu nhân lực ở một số lĩnh vực đặc thù.
Khi nào một ngành nghề được xác định là khó tuyển sinh nhưng xã hội cần?

Theo dự thảo, khái niệm "ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu" được xác định dựa trên mối quan hệ giữa nhu cầu nhân lực và khả năng thu hút người học.
Cụ thể, đây là những ngành nghề mà thị trường lao động đang cần hoặc được dự báo sẽ cần trong tương lai để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhưng các cơ sở đào tạo lại gặp khó khăn trong tuyển sinh.
Một trong những căn cứ quan trọng là tỷ lệ tuyển sinh thực tế thấp so với chỉ tiêu được xác định phù hợp với năng lực đào tạo và nhu cầu nhân lực. Bên cạnh đó, những ngành có quy mô tuyển sinh liên tục giảm, dẫn tới nguy cơ không đáp ứng được nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong 3 năm liên tiếp, cũng có thể được xem xét.
Như vậy, việc một ngành có ít người theo học không đồng nghĩa ngành đó không có triển vọng. Ngược lại, một số ngành càng khó tuyển lại càng cho thấy khoảng cách giữa lựa chọn của người học và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.
Ưu tiên những lĩnh vực có vai trò chiến lược
Dự thảo cũng tính đến trường hợp những ngành nghề mới, ngành đang tạm dừng tuyển sinh hoặc các ngành phục vụ những lĩnh vực có tính chiến lược nhưng chưa đủ dữ liệu tuyển sinh trong 3 năm.
Các ngành phục vụ kinh tế trọng điểm, công nghệ mới, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh, cũng như các nhiệm vụ chiến lược quốc gia, quốc phòng, an ninh hoặc nhiệm vụ đặc biệt của Nhà nước có thể được xem xét đưa vào danh mục.
Trong trường hợp này, cơ quan quản lý không nhất thiết phải chờ đủ dữ liệu tuyển sinh trong 3 năm mà có thể căn cứ vào dự báo nhu cầu nhân lực và nhu cầu tuyển dụng của xã hội.
Điều này cho thấy chính sách không chỉ giải quyết tình trạng thiếu nhân lực hiện tại mà còn hướng tới việc chuẩn bị nguồn lao động cho những lĩnh vực được dự báo sẽ đóng vai trò quan trọng trong tương lai.
Đề xuất bổ sung ngành phải có căn cứ

Để một ngành nghề được đề xuất đưa vào danh mục, cơ quan đề xuất phải chứng minh ngành đó đáp ứng các tiêu chí theo quy định.
Trong đó, cần làm rõ tổng chỉ tiêu tuyển sinh hoặc quy mô đào tạo được bộ, tỉnh, thành phố giao cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trực thuộc hằng năm, đồng thời cung cấp số lượng tuyển sinh thực tế của từng ngành.
Quy trình này nhằm tạo cơ sở dữ liệu cụ thể để đánh giá tình trạng tuyển sinh, tránh việc đưa ngành nghề vào danh mục chỉ dựa trên nhận định chủ quan.
Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, việc đánh giá cũng được thực hiện hằng năm. Trên cơ sở kết quả thực tế, các trường có thể báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền và Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét bổ sung hoặc đưa ngành nghề ra khỏi danh mục.
Danh mục sẽ được rà soát định kỳ
Theo dự thảo, danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu sẽ không cố định.
Các danh mục này dự kiến được rà soát, chỉnh sửa và bổ sung định kỳ ít nhất 5 năm một lần nhằm bảo đảm phù hợp với sự thay đổi của thị trường lao động và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên sẽ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đánh giá quá trình thực hiện. Trên cơ sở kết quả đánh giá, cơ quan này sẽ trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét việc điều chỉnh, bổ sung ngành nghề theo quy định.
Với người học, chính sách miễn 100% học phí đối với các ngành nghề khó tuyển nhưng xã hội cần có thể mở thêm một hướng lựa chọn đáng cân nhắc. Thay vì chỉ tập trung vào những ngành có đông người đăng ký, người học có thể quan tâm hơn đến những lĩnh vực đang thiếu nhân lực và có chính sách hỗ trợ học phí từ Nhà nước.
Tuy nhiên, danh mục 35 ngành nghề nêu trên hiện nằm trong dự thảo thông tư đang được lấy ý kiến, vì vậy người học cần theo dõi thông tin chính thức từ Bộ Giáo dục và Đào tạo để biết danh mục cuối cùng cũng như thời điểm chính sách được áp dụng.