Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và các văn bản hướng dẫn, khi người lao động mắc bệnh nghề nghiệp, quyền lợi có thể đến từ hai nguồn chính gồm trách nhiệm của người sử dụng lao động và các chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Người sử dụng lao động phải thanh toán những khoản nào?
Theo khoản 1, 2 và 3 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, khi người lao động mắc bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị.
Người sử dụng lao động đồng thời phải thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi người lao động điều trị ổn định.
Khoản chi này bao gồm phần chi phí đồng chi trả và những khoản không thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế; phí giám định mức suy giảm khả năng lao động trong trường hợp luật định. Nếu người lao động không tham gia bảo hiểm y tế, người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế.
Trong thời gian người lao động phải nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ tiền lương.
Suy giảm từ 5% khả năng lao động được bồi thường ra sao?
Theo khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH, người lao động mắc bệnh nghề nghiệp làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc bị chết do bệnh nghề nghiệp thuộc trường hợp được bồi thường.
Mức bồi thường ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu người lao động bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động.
Trường hợp suy giảm từ 11% đến 80%, ngoài 1,5 tháng tiền lương tương ứng với mức suy giảm 10%, cứ tăng thêm 1% mức suy giảm khả năng lao động, người lao động được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương.
Nếu mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc người lao động chết do bệnh nghề nghiệp, mức bồi thường ít nhất bằng 30 tháng tiền lương.
Tiền lương làm căn cứ bồi thường và trả lương trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mắc bệnh nghề nghiệp. Trường hợp thời gian làm việc chưa đủ 6 tháng thì tính bình quân các tháng liền kề trước thời điểm xác định mắc bệnh nghề nghiệp.
Đáng chú ý, quyết định bồi thường phải được hoàn tất trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được biên bản giám định của Hội đồng Giám định Y khoa. Tiền bồi thường phải được thanh toán một lần trong 5 ngày kể từ ngày ra quyết định bồi thường.
Ngoài việc bồi thường, doanh nghiệp còn có trách nhiệm giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động, điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng; bố trí công việc phù hợp với sức khỏe nếu người lao động tiếp tục làm việc và lập hồ sơ để người lao động được hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Trợ cấp một lần thấp nhất 12,65 triệu đồng
Ngoài các khoản do người sử dụng lao động chi trả, người mắc bệnh nghề nghiệp đáp ứng điều kiện còn có thể hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Theo Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động mắc bệnh nghề nghiệp bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% được hưởng trợ cấp một lần.
Người bị suy giảm 5% khả năng lao động được hưởng bằng 5 lần mức lương cơ sở. Sau đó, cứ suy giảm thêm 1% được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở.
Ngoài khoản tiền tính theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, người lao động còn được nhận thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP, từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở là 2,53 triệu đồng/tháng.
Như vậy, riêng phần trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động, người bị suy giảm ở mức thấp nhất 5% được hưởng: 5 × 2,53 triệu đồng = 12,65 triệu đồng.
Suy giảm từ 31% được trợ cấp hằng tháng
Theo Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng.
Ở mức suy giảm 31%, khoản trợ cấp bằng 30% mức lương cơ sở. Sau đó, cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở.
Người lao động còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng, riêng khoản trợ cấp tính theo tỷ lệ suy giảm ở mức 31% tương ứng:30% × 2,53 triệu đồng = 759.000 đồng/tháng.
Trợ cấp phục vụ 2,53 triệu đồng/tháng
Theo Điều 52 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và thuộc một số trường hợp như liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hoặc liệt hai chi hoặc mắc bệnh tâm thần thì ngoài trợ cấp hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ.
Mức trợ cấp phục vụ bằng một lần mức lương cơ sở.
Theo mức lương cơ sở áp dụng từ ngày 1/7/2026, khoản trợ cấp này tương ứng 2,53 triệu đồng/tháng.
Người mắc bệnh nghề nghiệp làm tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể cũng có thể được cấp tiền mua phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình tùy tình trạng bệnh tật, chỉ định của cơ sở có thẩm quyền và niên hạn theo quy định.
Dưỡng sức có thể được hưởng 759.000 đồng/ngày
Người lao động sau khi điều trị ổn định bệnh nghề nghiệp, trong 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi có thể được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Thời gian nghỉ tối đa là 10 ngày đối với trường hợp suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên; 7 ngày nếu suy giảm từ 31% đến 50% và 5 ngày đối với mức suy giảm từ 15% đến 30%.
Mức hưởng mỗi ngày bằng 30% mức lương cơ sở.
Với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng, người lao động được hưởng 759.000 đồng/ngày dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Người lao động chết do bệnh nghề nghiệp, thân nhân có thể nhận hơn 91 triệu đồng
Theo Điều 53 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, trường hợp người lao động chết do bệnh nghề nghiệp và đáp ứng điều kiện luật định, thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở tại tháng người lao động chết.
Với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng, khoản trợ cấp một lần tương ứng: 36 × 2,53 triệu đồng = 91,08 triệu đồng.
Ngoài khoản tiền trên, thân nhân người lao động còn được hưởng chế độ tử tuất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội nếu đáp ứng các điều kiện liên quan.
Như vậy, quyền lợi của người mắc bệnh nghề nghiệp không chỉ gồm khoản bồi thường từ người sử dụng lao động mà còn có thể bao gồm trợ cấp một lần hoặc hằng tháng, trợ cấp phục vụ, dưỡng sức, phương tiện trợ giúp sinh hoạt và các chế độ khác từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tùy từng trường hợp.