Chính thức từ năm 2026: Công chức được tăng lương, tăng thu nhập theo kết quả công việc, cụ thể ra sao?

Được tăng lương là điều mà tất cả người lao động, công chức viên chức đều mong muốn.
2188316-991525a0cd9a0afbd3564c69c084b706-1768982103.jpg
Được tăng lương là điều mà tất cả người lao động, công chức viên chức đều mong muốn.

Theo Thư viện pháp luật, quy định tại Điều 23 Nghị định 335/2025/NĐ-CP từ ngày 01/01/2026 công chức không chỉ được đánh giá vào cuối năm mà còn được theo dõi, đánh giá thường xuyên trong năm trên cơ sở nhiệm vụ được giao.

Kết quả đánh giá được chấm điểm theo hai nhóm tiêu chí chính, trong đó kết quả thực hiện nhiệm vụ chiếm tỷ trọng lớn, phản ánh thực chất mức độ hoàn thành công việc.

Cơ quan sử dụng công chức trong phạm vi thẩm quyền, sử dụng kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng công chức hàng quý/06 tháng/hằng năm để làm căn cứ xác định tiền thu nhập tăng thêm, tiền thưởng từ quỹ tiền thưởng hằng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nếu có).

Công chức có kết quả đánh giá cao sẽ được ưu tiên chi trả thu nhập tăng thêm và khen thưởng; ngược lại, người không hoàn thành nhiệm vụ có thể không được hưởng hoặc bị hạn chế các khoản thu nhập này. Điều này tạo sự phân hóa rõ ràng, góp phần khắc phục tình trạng “cào bằng” trong khu vực công.

Ngoài thu nhập, kết quả đánh giá theo Nghị định 335 còn là căn cứ để xem xét thi đua – khen thưởng, quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, nâng ngạch và xử lý đối với công chức không hoàn thành nhiệm vụ.


Chính thức từ năm 2026: Công chức được tăng lương, tăng thu nhập theo kết quả công việc, cụ thể ra sao?

Cách xác định điểm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ như thế nào?
Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 335/2025/NĐ-CP cách xác định điểm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ như sau:

1. Điểm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tháng hoặc quý được tính theo công thức sau:

Điểm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ = (a+b+c)/3

Trong đó:

- a là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về số lượng kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

- b là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về chất lượng kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

- c là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về tiến độ kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

2. Điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tháng hoặc quý được tính theo công thức sau:

Điểm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ = (a + b + c + d + đ + e)/6

Trong đó:

- a là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về số lượng kết quả thực hiện nhiệm vụ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

- b là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về chất lượng kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

- c là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về tiến độ kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

- d là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về kết quả hoạt động của lĩnh vực được giao lãnh đạo, quản lý, phụ trách quy định tại điểm a khoản 3 Điều 15 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

- đ là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về khả năng tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

- e là điểm tỷ lệ phần trăm (%) về năng lực tập hợp, đoàn kết công chức thuộc phạm vi quản lý quy định tại điểm c khoản 3 Điều 15 Nghị định 335/2025/NĐ-CP.

Đánh giá tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ đối với công chức như thế nào?
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 335/2025/NĐ-CP đánh giá tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ đối với công chức thực hiện như sau:

- Việc đánh giá tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ đối với công chức được thực hiện trên cơ sở so sánh giữa số lượng sản phẩm/công việc hoàn thành (đã quy đổi) với số lượng sản phẩm/công việc được giao (đã quy đổi) hằng tháng hoặc quý.

- Kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua số lượng, chất lượng và tiến độ của sản phẩm/công việc:

+ Số lượng: Xác định bằng điểm tỷ lệ phần trăm giữa số lượng sản phẩm/công việc hoàn thành (đã quy đổi) với số lượng sản phẩm/công việc được giao (đã quy đổi) thuộc nhiệm vụ trong tháng hoặc quý.

+ Chất lượng: Xác định bằng điểm tỷ lệ phần trăm giữa số lượng sản phẩm/công việc hoàn thành đạt yêu cầu về chất lượng nội dung (đã quy đổi) so với số lượng sản phẩm/công việc được giao (đã quy đổi) trong tháng hoặc quý. Trường hợp có sai sót lớn về nội dung ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm/công việc thì mỗi lần đánh giá chưa đạt bị trừ 25% điểm chất lượng của sản phẩm/công việc đó, trừ trường hợp sai sót do nguyên nhân khách quan được cấp có thẩm quyền xác nhận.

+ Tiến độ: Xác định bằng điểm tỷ lệ phần trăm giữa số lượng sản phẩm/công việc hoàn thành đạt tiến độ trở lên (đã quy đổi) so với số lượng sản phẩm/công việc được giao (đã quy đổi) trong tháng hoặc quý. Trường hợp không bảo đảm đúng tiến độ thì mỗi lần chậm bị trừ 25% điểm tiến độ của sản phẩm/công việc đó, trừ trường hợp sai sót do nguyên nhân khách quan được cấp có thẩm quyền xác nhận.

Theo báo Dân trí, Bộ Nội vụ cho biết đang xây dựng dự thảo nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách, theo chỉ đạo của Thủ tướng.

Để hoàn thiện dự thảo, Bộ Nội vụ đã đề nghị các địa phương tổng kết, đánh giá việc thực hiện các quy định hiện hành. Trên cơ sở đó, Bộ đang rà soát toàn diện mô hình tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và các chính sách liên quan, làm căn cứ xây dựng nghị định mới.

Dự thảo nghị định được xây dựng gắn với lộ trình sắp xếp lại thôn, tổ dân phố trước ngày 31/5 theo chủ trương của Bộ Chính trị, nhằm bảo đảm bộ máy tinh gọn nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu quản lý và phục vụ người dân tại cơ sở.

Sắp xếp, hợp nhất các hội quần chúng

Về sắp xếp, hợp nhất các hội quần chúng, Bộ Nội vụ cho biết việc triển khai được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành và các kết luận của Trung ương, bảo đảm thống nhất trong tổ chức bộ máy sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.

Trong đó, đối với các hội quần chúng không do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể được thực hiện theo Nghị định số 126/2024 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, cùng với Nghị định số 129/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ. Theo đó, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đối với các hội có phạm vi hoạt động trong xã thuộc chủ tịch UBND cấp xã.

Để thống nhất triển khai, Bộ Nội vụ đã ban hành Công văn số 1911 hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục sáp nhập, hợp nhất các hội quần chúng không do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ hoạt động ở phạm vi tỉnh, xã.

Đối với các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, việc sắp xếp, hợp nhất được thực hiện theo Kết luận số 174/2025, Kết luận số 177/2025 và Kết luận số 178/2025 của Bộ Chính trị, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy. Việc triển khai được thực hiện theo hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm bảo đảm tổ chức thống nhất, hoạt động thông suốt, hiệu quả ở địa phương.

Về việc cải cách chính sách tiền lương, Bộ Nội vụ cho biết đã triển khai theo Nghị quyết số 27 của Trung ương. Từ ngày 1/7/2024, mức lương cơ sở đã được điều chỉnh tăng từ 1,8 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng/tháng, góp phần cải thiện đời sống người hưởng lương và tạo động lực làm việc.

Trong thời gian tới, Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét việc triển khai các bảng lương và chế độ phụ cấp mới. Trước mắt, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét tăng lương cơ sở trong năm 2026, bảo đảm phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế và khả năng ngân sách nhà nước.

 

Mỹ Anh (t/h)