Công văn 17564: Từ tháng 9/2026, 2 chức danh nào tại TP.HCM phải dừng chi trả và rà soát thu hồi chế độ?
Theo Thư viện pháp luật, ngày 07/9/2026, Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn 17564/SNV-XDCQCTTN về việc triển khai Công văn 9458/BNV-TCBC ngày 26/8/2026 của Bộ Nội vụ.
Công văn 17564/SNV-XDCQCTTN được ban hành căn cứ khoản 4 Điều 16 Nghị định 185/2026/NĐ-CP và hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại Công văn 7031/BNV-TCBC và Công văn 7617/BNV-TCBC về việc giải quyết chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư dôi dư do sắp xếp.
Đồng thời, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc xác định đối tượng dôi dư để giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP, Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh đã xin ý kiến hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại Công văn 13242/SNV-TCBC&TCPCP ngày 14/7/2026 và Công văn 14829/SNV-XDCQCTTN ngày 01/8/2026.
Ngày 26/8/2026, Bộ Nội vụ ban hành Công văn 9458/BNV-TCBC phúc đáp 02 văn bản nêu trên và hướng dẫn xác định 03 chức danh là người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư dôi dư do sắp xếp để giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP bao gồm: Bí thư Chi bộ; Trưởng Ban Công tác Mặt trận; Trưởng khu phố, ấp, thôn, khu dân cư.

Công văn 17564/SNV-XDCQCTTN cũng nêu rõ, 2 chức danh người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp theo Nghị quyết số 02/2024/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (trước sắp xếp) gồm:
(1) Bí thư Đoàn Thanh niên khu phố, ấp hoặc Trưởng chi hội khác;
(2) Chi hội trưởng Phụ nữ khu phố, ấp.
Hai chức danh này không thuộc 03 chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được xác định để giải quyết chính sách theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP.
Đối với 02 chức danh nêu trên, Bộ Nội vụ đề nghị địa phương căn cứ quy định tại điểm l khoản 9 Điều 31 Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 để thực hiện theo thẩm quyền.
Để trở thành Trưởng khu phố cần có tiêu chuẩn như thế nào?
Theo Điều 2 Nghị định 185/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 2. Thôn, tổ dân phố
1. Thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc... (gọi chung là thôn); tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu... (gọi chung là tổ dân phố).
...
Tại Điều 7 Nghị định 185/2026/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn Trưởng khu phố như sau:
(1) Là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại địa bàn xã, phường, đặc khu từ 21 tuổi trở lên, ưu tiên người trong độ tuổi lao động theo quy định; có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao.
(2) Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu; có uy tín trong cộng đồng dân cư; được Nhân dân tín nhiệm; bản thân và gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
(3) Có kiến thức văn hóa, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ chức Nhân dân thực hiện tốt các công việc tự quản của cộng đồng dân cư và triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ do cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã giao; khuyến khích lựa chọn người có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu hoạt động của thôn, tổ dân phố.
(4) Có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; có khả năng lập kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định.
(5) Không trong thời gian bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án.

Thôn, tổ dân phố có nguyên tắc tổ chức, hoạt động ra sao?
Theo Điều 3 Nghị định 185/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố như sau:
(1) Tổ chức của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; phù hợp với quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn và yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã.
(2) Bảo đảm và đề cao tính tự quản của cộng đồng dân cư; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân trong tổ chức đời sống cộng đồng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương.
(3) Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phân định rõ nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư với nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã.
(4) Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản trên địa bàn; phát huy vai trò của Nhân dân trong bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng dân cư.
(5) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, tạo thuận lợi cho Nhân dân trong tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động cộng đồng và phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã trong các hoạt động tại địa bàn.