Chính sách 2,8 triệu đồng/tháng áp dụng ở đâu?
Thời gian gần đây, thông tin về việc “người không có vợ, chồng, con được hỗ trợ 2,8 triệu đồng/tháng từ ngày 1/7/2026” thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tuy nhiên, cách diễn giải này có thể khiến chính sách bị hiểu sai.
Căn cứ Nghị quyết 13/2026/NQ-HĐND được HĐND tỉnh Hưng Yên ban hành ngày 9/7/2026, đây là chính sách hỗ trợ thu nhập hằng tháng dành cho một số thành viên không có khả năng lao động thuộc hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 9/7/2026.
- Hỗ trợ mỗi CBCCVC 1.500.000 đồng/tháng từ tháng 08/2026 đến 31/7/2028 theo chính sách tại Nghị quyết 19 với những trường hợp nào?
- Trước 25/8/2026, hoàn thành chi trả chế độ, chính sách cho viên chức, nhân viên, NLĐ chịu tác động của việc sắp xếp theo Thông báo 740 do các cơ quan nào phối hợp thực hiện?
- Công chức không được tính hưởng thêm 5.000.000 đồng/tháng đến hết 30/6/2027 của chính sách tại Nghị quyết 41 khi rơi vào những khoảng thời gian nào?
Như vậy, đây không phải chính sách áp dụng trên phạm vi cả nước. Đồng thời, tình trạng không có vợ, chồng hoặc con chỉ là một trong những tiêu chí được đề cập trong nhóm đối tượng cụ thể, chứ không phải điều kiện duy nhất để một người được nhận tiền hỗ trợ.

Những ai có thể thuộc diện được hỗ trợ?
Theo Nghị quyết 13, nhóm đối tượng chính là người thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, không có khả năng lao động và không có thu nhập hằng tháng theo quy định.
Đối với trường hợp đang hưởng một hoặc nhiều khoản trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước nhưng tổng mức hưởng vẫn thấp hơn mức tiêu chí thu nhập chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, chính sách hỗ trợ thêm có thể được áp dụng để bảo đảm mức thu nhập theo quy định.
Một nhóm đáng chú ý là người cao tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên, không có khả năng thoát nghèo và không có thu nhập hằng tháng, đồng thời đáp ứng các điều kiện được Nghị quyết quy định.
Trong nhóm này có trường hợp không có vợ, chồng, con. Quy định cũng tính đến những trường hợp có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn; vợ, chồng hoặc con đã chết hoặc mất tích theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, một người cao tuổi vẫn có thể thuộc nhóm được xem xét nếu có vợ hoặc chồng nhưng không có con; hoặc có vợ, chồng, con nhưng những người này thuộc một số trường hợp đặc biệt như đang hưởng trợ cấp theo quy định, được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội, đang chấp hành án phạt tù hoặc thuộc các trường hợp khác được Nghị quyết liệt kê.
Không chỉ người cao tuổi mới thuộc diện chính sách

Nghị quyết 13 còn quy định một số nhóm đối tượng khác. Trong đó có người thuộc hộ nghèo, không có khả năng lao động và không có thu nhập hằng tháng, đồng thời được xác định có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên.
Người mắc bệnh hiểm nghèo thuộc danh mục được pháp luật quy định cũng nằm trong nhóm đối tượng được xem xét. Bên cạnh đó là người mắc bệnh cần chữa trị dài ngày theo danh mục và quy định của ngành y tế.
Chính sách cũng bao gồm trẻ em và người từ đủ 16 tuổi đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng hoặc chương trình đại học văn bằng thứ nhất. Với nhóm này, việc hỗ trợ được thực hiện đến khi kết thúc khóa học nhưng tối đa không quá 22 tuổi.
Điểm quan trọng là các điều kiện về hộ nghèo, khả năng lao động, thu nhập và những tiêu chí liên quan phải được xem xét theo đúng quy định. Vì vậy, việc chỉ dựa vào tình trạng hôn nhân để kết luận một người được hưởng chính sách là chưa chính xác.
2,8 triệu đồng/tháng chưa áp dụng trong năm 2026

Một điểm dễ gây nhầm lẫn khác nằm ở thời điểm và mức hỗ trợ. Theo Nghị quyết 13, trong năm 2026, tổng mức hỗ trợ theo chính sách này cùng các khoản trợ cấp hằng tháng khác mà đối tượng đang hưởng được bảo đảm ở mức 2 triệu đồng/người/tháng tại khu vực đô thị và 1,5 triệu đồng/người/tháng tại khu vực nông thôn.
Mức 2,8 triệu đồng/người/tháng tại khu vực đô thị được áp dụng trong giai đoạn từ năm 2027 đến năm 2030. Trong cùng giai đoạn, mức tương ứng tại khu vực nông thôn là 2,2 triệu đồng/người/tháng.
Đáng chú ý, đây là mức tổng trợ cấp và hỗ trợ hằng tháng được bảo đảm theo chính sách, không nên hiểu mặc nhiên rằng tất cả người thuộc diện chính sách đều nhận riêng một khoản 2,8 triệu đồng từ ngân sách.
Trường hợp người đang nhận các khoản trợ cấp khác, khoản hỗ trợ theo Nghị quyết được tính theo nguyên tắc bù phần còn thiếu để đạt mức thu nhập quy định. Với một số đối tượng không có thu nhập hằng tháng, mức hỗ trợ được xác định theo mức thu nhập tương ứng tại Nghị quyết.